http://repair.vietluan.net/modules.php?op=modload&name=News&file=article&sid=1407
| |
Lời thầy dạy
Sách có câu:
'Họa hổ, hoạ bì nan họa cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm'. Nghĩa là vẽ con cọp, chỉ vẽ bên ngoài da không thể nào vẽ xương bên trong. Biết người, biết hình tướng bên ngoài chứ không thể biết được trong lòng, đừng 'nhìn mặt mà bắt hình dung'. Ở đời không thể xét đoán một người theo hình tướng của họ. Ngụ ý khuyên hãy cẩn trọng, đề phòng kẻ có lòng dạ tiểu nhân trong hình dáng của một quân tử.
Trái lê bề ngoài thấy đẹp nhưng bên trong ruột lại bị hư thúi, còn trái dưa bề ngoài bị trầy trụa xấu xí nhưng khi xẻ ra lại nhiều nước và ngọt. Bởi thế trái cây cũng giống như con người cho nên không thể nhìn bề ngoài mà đánh giá. Kẻ có dung mạo cao sang nhưng trong lòng lại đê tiện thì tốt ở chỗ nào? Còn người dị mạo, tánh thẳng như ruột ngựa lại tốt bụng thì đâu phải là người xấu?
Nói như thế không có nghĩa là những người có dung mạo đẹp đều là người xấu! Khoa tướng học sau này cho thấy người ta có thể nhìn con người qua tướng mạo, hoặc nghe giọng nói, cũng có thể biết được tánh tình theo lập luận một cách khoa học.
Cổ nhân có nói: 'Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt'. Tướng mạo con người đẹp hay xấu đều do tâm sinh hay diệt. Câu này có ngụ ý khuyên người đời nên tu dưỡng tâm tánh. Tu tâm là phương pháp sửa đổi lỗi lầm cao minh nhất. Tâm có tu dưỡng thì được thanh tịnh, khi tâm thanh tịnh thì tà niệm khó khởi động hoặc nếu như tà niệm đã khởi thì cũng có sức giác chiếu của tâm mà tiêu diệt nó.
Làm người ai không phạm lầm lỗi? Kẻ nào tự hào rằng mình là người không có lỗi lầm thì kẻ đó mới chính là ngu xuẩn nhất. Tội lỗi! Tội lỗi! Chúng ta đều là 'phàm phu tục tử', cũng có đầy lầm lỗi như lông trên mình con nhím. Tại vì không chịu nhìn lại và đếm từng lỗi lầm mà thôi!
Muốn tránh bớt và cải đổi từng lỗi lầm thì phải khiêm cung độ lượng, khoan dung với người và tự nghiêm khắc với chính mình. Khi đưa ra một đối sách hay một kế hoạch gì mà không được người khác hưởng ứng thì nên nhìn lại vấn đề. Một là vì đạo đức của mình còn thiếu. Hai là tâm tánh mình chưa được tốt nên không đủ sức cảm động đến lòng người. Chớ đừng giận dữ mà động ác tâm sinh ra cãi vã, gây gổ với người.
Tâm không động niệm thì không tạo ra nghiệp chướng. Nhất tâm nhất ý khởi nghiệp lành, hành thiện thì không có ác niệm nào có thể xen vào khởi động tâm mà tạo nghiệp ác được. Cho nên việc hành thiện nếu xuất phát từ lòng thành cứu giúp và tôn trọng người thì đó là chánh tâm. Còn nếu làm việc thiện để lấy lòng người, có ý đồ hay có ý coi thường hoặc chỉ để đùa vui thì đó là tà tâm vậy!
Tóm lại, hai câu 'Họa hổ, hoạ bì nan họa cốt. Tri nhân, tri diện bất tri tâm'và 'Tướng tự tâm sinh, tướng tùy tâm diệt' có điểm dị đồng, con nên suy nghiệm để học hỏi thêm.
* * *
Ấn tướng là những nét hoặc dấu có sẵn trên cơ thể con người khi mới chào đời. Chẳng hạn như một cái bớt sau mông, hai ba nốt ruồi son trước ngực hoặc dáng điệu đi đứng hay giọng nói tiếng cười... đều là ấn tướng riêng biệt của mỗi con người.
Khuôn mặt là nơi mà người ta nhìn vào khí sắc theo ngũ hành để luận đoán sự vui buồn hay lo âu, bệnh hoạn, nạn tai của mỗi người:
- Kim, màu trắng bệch: Bệnh hoạn, mất ngủ. Khổ vì tình.
- Mộc, màu xám xanh: Kinh sợ, mệt mõi. Bị nạn tai.
- Thủy, màu xám đen: Bệnh nặng, lo rầu. Bị mất tiền.
- Hỏa, màu ửng đỏ: Nóng giận, tức tối. Bị hỏa nạn.
- Thổ, màu vàng cam: Vui vẻ, có tiền. Được hạnh phúc.
Bên cạnh việc xem khí sắc, người ta còn dựa vào những dấu vết trên gương mặt để luận cát hung họa phúc theo Ám tướng.
Ám tướng thường xuất hiện ở trên tam đình. Ngoài ra nó còn có trong giọng nói tiếng cười của mỗi người. Ám có nghĩa là ngầm, khi ẩn khi hiện, chớ không phải là u tối.
Xin nhắc lại, Tam đình là từ ngữ mà khoa tướng mệnh dùng để chỉ các bộ phận cũng như những vị trí nằm trên khuôn mặt, từ đó người xưa luận đoán để biết tướng phú quý hay bần tiện, gian ác hay hiền lành, cực khổ hay sung sướng... Người ta chia nó ra làm ba phần: thượng đình, trung đình, hạ đình và luận tốt xấu như sau:
* Thượng đình: từ chân tóc xuống đến chân mày, ứng Thiên, xem trán.
- Người có trán cao rộng, rất tốt (quý tướng).
- Người có trán thấp nhưng rộng được coi là bình thường (nhân tướng).
- Người có trán hẹp, méo hay khuyết bị xem là xấu (khắc tướng).
* Trung đình: từ chân mày xuống đến mũi, ứng Nhân, xem mũi.
- Người có mũi cao, dầy, ngay ngắn và hai lỗ mũi kín thì số được trường thọ, giàu sang, phú quý (tâm tướng). Những người này thường có lòng tốt, luôn giúp người.
- Người có mũi ngắn, xẹp, bị cô đơn suốt đời cực khổ (bần tướng) và chỉ thích sống cho cá nhân mình.
- Người có mũi bị cụt, gẫy, phần nhiều yểu mạng hoặc vướng vòng lao lý (mạt tướng), thường làm những điều trái với nhân nghĩa.
* Hạ đình: từ nhân trung xuống đến cằm, ứng với Địa, xem cằm.
- Người có cằm đầy đặn, bằng phẳng, chỉnh tề thì số được giàu sang, phú quý (hảo tướng) và có nhiều bè bạn.
- Người có cằm nhỏ, nhọn, lệch thì cuộc đời truân chuyên vất vả và về già gặp nghèo khó (hung tướng). Ít có bạn bè.
Ám tướng
Ám tướng là dấu ẩn hiện để báo trước sự may rủi quan trọng sắp sửa xảy đến bất ngờ. Nó chỉ có hiệu lực gây ra tác dụng trong vòng một hai tuần cho đến sáu tháng mà thôi!
Các nhà tướng số cho rằng Ám tướng là hiện tượng do tạo hóa sắp xếp, cho nó hiện ra để báo hiệu trước khi ban thưởng hay trừng phạt một người nào đó.
Ảnh hưởng xấu
* Thượng đình: Tự nhiên trên vầng trán có một quầng hơi đen hay một khoảng tối, khi ẩn khi hiện bên dưới làn da, hơi khó phân biệt, phải nhìn kỹ càng mới thấy, đó là điềm xấu:
- Nếu nó lệch về phía phải thì đó là điềm báo trước sẽ bị thương tật vì tai nạn hoặc bị vướng vào vòng tù tội.
- Nếu quầng đen này nằm lệch bên trái là điềm báo tử vì nạn tai hay bệnh hoạn.
- Nếu nó lớn và che lấp cả vầng trán thì đó là điềm báo trước rằng cả gia đình sẽ bị nạn một lượt (vợ chồng con cái).
Hai con mắt có quầng thâm đen là bị bệnh hoạn hay mất ngủ, không phải là ám tướng. Nhưng nếu quá hai tuần mà hai quầng thâm không biến mất thì nên cẩn thận trong việc lái xe hay đi qua sông biển.
* Trung đình:
- Nếu quầng đen nằm giữa ấn đường (giữa đôi lông mày) hay sơn căn thì là điềm trong thân tộc có người 'về bên kia thế giới'.
- Nếu nó xuất hiện trên gò má bên phải thì đó là điềm báo bị tai nạn xe cộ, té từ trên cao xuống đất hay rớt xuống sông. Tuy không mất mạng nhưng cũng bị thương tật hoặc mất trí nhớ.
- Nếu nó nằm tại gò má trái là điềm báo sắp bị người yêu bỏ rơi. Nếu đã lập gia đình thì bị người 'bạn đời' phản bội.
- Trong tròng trắng của con mắt tự nhiên nổi một chấm đen nhỏ là điềm báo trước sự lỗ lã trong công ăn chuyện làm hoặc bị mất việc bất ngờ.
* Hạ đình: Quầng đen hay khoảng tối này thường xuất hiện ở chính giữa cằm hoặc hai bên mép của đôi môi:
- Nếu xuất hiện giữa cằm là điềm báo sẽ bị gây gổ, ấu đả với người và có đổ máu. Nên cẩn trọng bằng cách tránh xa chỗ đông người và đừng cãi vã với bất cứ ai trong thời gian bị ám tướng này.
- Nếu nó nằm ở mép môi bên phải thì sẽ có tin buồn từ phương xa.
- Nếu nó nằm ở mép môi bên trái thì em hoặc con sẽ 'lìa đời'.
Ảnh hưởng tốt
* Thượng đình: Tự nhiên trên vầng trán có một khoảng sáng trắng, khi ẩn khi hiện bên dưới làn da thì đó là điềm tốt:
- Nếu nó lệch về phía phải là điềm công danh hiển đạt hoặc thăng quan tiến chức.
- Nếu khoảng sáng này nằm lệch bên trái là điềm phát tài như trúng số hoặc có được số tiền lớn do người khác bất ngờ trao tặng.
- Nếu nó lớn và bao trùm cả vầng trán thì đó là điềm may mắn vui tươi cho cả gia đình.
* Trung đình:
- Nếu khoảng sáng nằm giữa ấn đường (giữa đôi lông mày) hay sơn căn thì là điềm vui gia tăng nhân khẩu hay sanh quý tử.
- Nếu nó xuất hiện trên gò má bên phải thì đó là điềm có quý nhân mang tài lộc đến nhà.
- Nếu nó nằm tại gò má trái là điềm đỗ đạt khi thi cử, hôn nhân thành tựu, gặp lại bạn hiền.
Ngoài ra khoảng sáng xuất hiện nơi khác ở trung đình đều mang lại nguồn vui tươi và hạnh phúc.
* Hạ đình: Khoảng sáng này cũng xuất hiện ở chính giữa cằm hoặc hai bên mép của đôi môi:
- Nếu xuất hiện dưới cằm là điềm thuận lợi cho việc làm ăn, cơ hội tốt để tạo dựng sự nghiệp.
- Nếu nó nằm ở mép môi bên phải thì là điềm sắp có thêm con cháu trong nhà.
- Nếu nó nằm ở mép môi bên trái thì sẽ có dịp đi du lịch nước ngoài hoặc đi xa thăm người thân thương.
Ảnh hưởng tốt xấu
* Giọng nói:
Giọng nói của con người đều bình thường hàng ngày, nhưng bỗng nhiên một hôm nào đó tự nhiên đổi khác mặc dù không bị đau ốm, giọng nói cao hơn hoặc trầm xuống thì đó chính là ám tướng. Ám tướng của giọng nói được giải đoán như sau:
- Nếu giọng cao hơn trước thì đó là điềm báo sẽ mất mát của cải vì bị trộm cắp.
- Nếu giọng trầm xuống là điềm bị trở ngại lớn về công ăn việc làm.
- Nếu bỗng dưng bị ngượng ngập hay ngập ngừng, phát âm thường bị lẹo lưỡi là điềm sắp được của hoạnh tài.
Lưu ý: Thay đổi giọng nói khi bị bệnh cảm cúm, ho... thì đó không phải là ám tướng.
* Tiếng cười:
Khi vui người ta thường tươi cười, tiếng cười của mỗi con người đều khác nhau. Có người cười lớn tiếng, có người cười với tiếng phát ra vừa phải và cũng có người khi cười chỉ nhếch mép môi đó là cười theo bẩm sinh. Nhưng nếu một ngày nào tiếng cười tự nhiên thay đổi thì đó mới thuộc về ám tướng.
- Nếu tiếng cười gượng gạo thiếu hơi là điềm báo trước sắp bị đau ốm, thất thoát tiền bạc, bị nạn tai hoặc vị trí đứng trong công việc làm sắp bị ngã đổ.
- Nếu tiếng cười lớn hơn và dài hơn là điềm may mắn báo trước công danh sẽ thành đạt, cơ nghiệp sắp thăng tiến và sắp có của hoạnh tài.
Còn tự mình sửa đổi tiếng cười thì đó không phải là ám tướng.
Lời kết
Nhớ bài thơ thầy thường ngâm:
'Sách xưa, chép dễ sai nào,
'Tướng tùy tâm diệt'nhớ mau sửa mình!
Còn câu 'tướng tự tâm sinh',
Chữ tâm kia mới chứng minh rõ tường.
Tâm mình, chính chính đường đường,
Tướng yểu, lại được thọ trường khó chi.
Cho dù sách cổ đã ghi,
Vẫn còn tùy diệt vẫn còn tùy sinh.
Nên, hư do ở tâm mình,
Hãy lo bồi đắp tình thương giúp người.
Diệt sinh dù đã đến nơi,
Nghiệp duyên nhân quả, nợ đời còn vương!
Trăm năm, dù có vô thường,
Nhưng tình nghĩa mãi ngát hương đất trời...'
Vô Chiêu trả lời thư độc giả
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu: Tìm sao của năm, tháng
Lời thầy dạy
'Hãy khiêm tốn nếu muốn tiếp nhận thêm trí tuệ và càng phải khiêm tốn hơn nữa khi đã đạt được đỉnh cao'.
Tự cho mình là khôn ngoan, thông hiểu mọi sự việc trên đời là chướng ngại lớn ngăn chận sự tiếp nhận thêm trí tuệ. Kiêu căng tự phụ là một tánh nết xấu nhất ở trên đời này. Biết bao kẻ bị 'thân bại danh liệt', 'tán gia bại sản' cũng vì bản tánh 'tự cao tự đại'. Lòng kiêu hãnh chẳng những không cho phép người ta tiếp nhận thêm những điều mà họ không hiểu biết mà còn làm cho họ trở nên mù quáng. Khi làm hoặc nói về một vấn đề nào đó mà họ không biết, họ sẽ khoác lác để khỏa lấp sự ngu dốt của mình và như thế họ đã vấp thêm lầm lỗi! Tội lỗi! Tội lỗi!
Nên ở vai trò của người học hỏi, chớ không nên là học trò. Người có lòng học hỏi luôn mang một tinh thần sảng khoái, sẵn sàng và mong được tiếp nhận thêm những điều mình không biết, mà quả thật mình chưa biết.
Học hỏi khác với học tập. Học tập ở trường thường có tính căn bản, từ chương để trả bài và thi cử. Một học sinh chỉ học chương trình do bộ giáo dục đề ra còn không đủ thời gian, nói chi đến những vấn đề bao quát bên ngoài, chắc chắn rằng cậu ta hay cô ta không có thì giờ học hỏi được sự liên quan từ sách vở ngoài đời, hoặc từ kinh nghiệm của chính bản thân.
Học tập đến hết bậc trung học, đại học hay cao nhất là lấy bằng tiến sĩ là hết. Còn học hỏi có tính cách trường kỳ hơn, còn sống là còn học hỏi. Tiến sĩ toán học nếu không chịu học hỏi về nghệ thuật làm vườn thì làm sao biết cách chăm sóc và làm đẹp khu vườn nhà?
Học hỏi là học những gì liên quan đến từng sự việc, học qua kinh nghiệm của nhiều người. Lắng nghe hay đọc những gì người ta chỉ dạy rồi suy nghiệm xem có đúng hay không, hoặc kiểm chứng lại một cách cẩn thận. Người thầy có bổn phận giúp đỡ cho người học hiểu rõ ràng và tường tận sự việc mà ông ta muốn dạy hay đề cập tới. Dĩ nhiên người thầy được kính trọng khi nào dạy những điều đúng và thích đáng.
Người học hỏi không nên quá tin tưởng và lệ thuộc vào người thầy mà phải có tinh thần hăng say tích cực bằng cách nêu ra những thắc mắc hoặc hỏi những gì mình chưa thông suốt. Ngoài ra người học hỏi cần phải tham khảo sách vở có liên quan đến sự việc mình đang tìm hiểu, luôn phân tích tìm ưu khuyết điểm và nghiệm lại thì mới đạt được kết quả.
Cũng có khi người ta học hỏi qua một sự việc hay một sự kiện xảy trước mắt mà không cần thầy dạy, chẳng hạn như câu chuyện 'Thầy tôi là cây xoài' được người đời kể lại như sau:
Ngày xưa, có một ông vua cùng đoàn tùy tùng đi thăm dân ở vùng yên bình. Trước khi đến tỉnh thành kế cận, họ băng qua một khu rừng hoang và trong đó có mấy cây xoài. Nhà vua thấy một cây xoài sai trái, trái chín nặng trĩu nên nhiều nhánh bị oằn xuống, vài cây không có trái bên cạnh thì cành nhánh cao hơn. Nhà vua là người thích ăn xoài, định trong bụng trên đường về kinh sẽ đích thân hái vài chục trái về cho hoàng hậu và công chúa cùng hưởng dụng.
Xong việc khi trở về, nhà vua thấy cây xoài sai trái bị gẫy cành, lá xác xơ và không còn một trái nào cả. Chợt hiểu ra rằng, đoàn tùy tùng của mình trước khi lên đường đã không dằn lòng ham muốn dùng binh khí chặt nhánh, dùng đá liệng cho rụng những trái trên cao và thậm chí còn leo lên cây làm gẫy cành... Là người có trí tuệ nên ông không buồn giận mà lại nghiệm ra được một điều lý thú rằng: Cây sai trái bị tàn phá thảm thương, còn cây không trái còn nguyên vẹn. Từ sự kiện này nhà vua học hỏi được một bài học: 'Càng có nhiều thì càng nhiều khổ đau, có ít thì ít bị đau khổ'.
Ngày hôm sau khi về đến cung điện, nhà vua đội vương miện lên đầu thái tử và nói: 'Kể từ bây giờ, con là vua của một nước, hãy sáng suốt mà trị vì thiên hạ'. Sau đó nhà vua rời cung vàng điện ngọc với bộ quần áo của người dân thường, ung dung thư thái đi về một nơi xa... Sau này có người thấy ông sống trăm tuổi vẫn vui tươi, an nhiên tự tại, họ hỏi: 'Thầy ông là ai?'. Ông ta trả lời: 'Thầy tôi là một cây xoài'.
* * *
Các nhà thiên văn ngày xưa quan sát sự chuyển động của nhị thập bát tú mà dự đoán thời tiết, bên cạnh đó các nhà địa lý quan niệm rằng, các ngôi sao trên trời là nguồn gốc gây ra tai họa hay giáng phúc cho mỗi con người.
Tùy theo sinh vào năm của sao nào thì cầm tinh con vật tượng trưng của vì sao đó. Họ căn cứ vào tính chất của sao và tính chất của con vật cầm tinh mà luận đoán cát hung họa phúc. Nếu cát tinh chiếu thì được phúc lộc, còn hung tinh chiếu thì bị họa tai.
Bởi thế cho nên khi cất nhà hoặc an táng người 'quá cố', người ta cần sao cát tinh chiếu vào cửa nhà hay mộ huyệt, họ kiêng kỵ hung tinh chiếu vào những nơi đó.
Nhị thập Bát tú là 28 vì sao. Dựa theo phương và hướng di chuyển của từng ngôi sao mà các nhà thiên văn chia nó ra thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 7 ngôi sao và sắp xếp thứ tự theo bốn phương như sau:
- Thanh long ở phương Đông: Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ.
- Huyền vũ ở phương Bắc: Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.
- Bạch Hổ ở phương Tây: Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm.
- Chu Tước ở phương Nam: Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn.
Tính chất của mỗi vì sao
1. Giác mộc giao (con cá sấu): Mộc tinh, sao tốt. Đỗ đạt, hôn nhân thành tựu. Kỵ an táng và cải táng.
2. Cang kim long (con rồng): Kim tinh, sao xấu. Kỵ gả cưới, xây cất. Dễ bị tai nạn.
3. Đê thổ lạc (con nhím): Thổ tinh, sao xấu. Kỵ động thổ, xuất hành, khai trương và chôn cất.
4. Phòng nhựt thố (con thỏ): Thái dương, sao tốt. Hưng vượng về tài sản, thuận lợi trong việc chôn cất và xây cất.
5. Tâm nguyệt hồ (con chồn): Thái âm, sao xấu. Kỵ thưa kiện, gả cưới, xây cất. Thua lỗ trong việc kinh doanh.
6. Vĩ hỏa hổ (con cọp): Hỏa tinh, sao tốt. Hưng vượng, thuận lợi trong việc xây cất, xuất ngoại và hôn nhân.
7. Cơ thủy báo (con beo): Thủy tinh, sao tốt. Vượng điền sản, sự nghiệp thăng tiến, gia đình an vui.
8. Đẩu mộc giải (con cua): Mộc tinh, sao tốt. Nên sửa chữa, xây cất, an táng và cưới gả.
9. Ngưu kim ngưu (con trâu): Kim tinh, sao xấu. Kỵ xây cất, hôn nhân.
10. Nữ thổ bức (con dơi): Thổ tinh, sao xấu. Kỵ chôn cất, gả cưới. Bất lợi khi sanh đẻ.
11. Hư nhật thử (con chuột): Nhật tinh, sao xấu. Kỵ xây cất. Gia đạo bất hòa.
12. Nguy nguyệt yến (con én): Nguyệt tinh, sao xấu. Kỵ an táng, xây dựng, khai trương.
13. Thất hỏa trư (con heo): Hỏa tinh, sao tốt. Tốt trong việc hôn nhân, xây cất, chôn cất và kinh doanh.
14. Bích thủy du (con rái): Thủy tinh, sao tốt. Tốt cho việc mai táng, hôn nhân, xây cất. Kinh doanh thuận lợi.
15. Khuê mộc lang (con sói): Mộc tinh, sao xấu. Kỵ khai trương, động thổ, an táng và sửa cửa.
16. Lâu kim cẩu (con chó): Kim tinh, sao tốt. Tiền bạc dồi dào, học hành đỗ đạt, tốt trong việc cưới gả, xây cất.
17. Vị thổ trĩ (con trĩ): Thổ tinh, sao tốt. Tốt cho việc xây cất, chôn cất, buôn bán và cưới gả.
18. Mão nhật kê (con gà): Nhật tinh, sao xấu. Tốt cho việc xây cất. Kỵ an táng, cưới gả và gắn hoặc sửa cửa.
19. Tất nguyệt ô (con quạ): Nguyệt tinh, sao tốt. Mọi việc đều tốt đẹp.
20. Chủy hỏa hầu (con khỉ): Hỏa tinh, sao xấu. Kỵ thưa kiện, xây cất, mai táng. Bất lợi trong việc thi cử.
21. Sâm thủy viên (con vượn): Thủy tinh, sao tốt. Tốt cho việc mua bán, xây cất và thi cử. Kỵ an táng và gả cưới.
22. Tỉnh mộc can (con chim cú): Mộc tinh, sao tốt. Công danh thành đạt, thuận lợi cho việc chăn nuôi và xây cất.
23. Quỷ kim dương (con dê): Kim tinh, sao xấu. Thuận lợi trong việc chôn cất. Bất lợi cho việc xây cất và gả cưới.
24. Liễu thổ chướng (con cheo): Thổ tinh, sao xấu. Tiền bạc hao hụt, dễ bị tai nạn, gia đình không yên. Kỵ cưới gả.
25. Tinh nhật mã (con ngựa): Nhật tinh, sao xấu. Tốt trong việc xây cất, xấu trong việc an táng, hôn nhân, gia đình bất an.
26. Trương nguyệt lộc (con nai): Nguyệt tinh, sao tốt. Thuận lợi cho việc mai táng, hôn nhân.
27. Dực hỏa xà (con rắn): Hỏa tinh, sao xấu. Kỵ dựng nhà, chôn cất và cưới gả.
28. Chẩn thủy dẫn (con trùng): Thủy tinh, sao tốt. Tốt cho việc xây dựng, gả cưới và an táng.
Xác định sao của năm
Theo chu kỳ thì 28 năm, sao sẽ trở lại như ban đầu, bắt đầu từ nhóm sao ở phương Tây (Bạch Hổ), xuống phương Nam (Chu Tước), lên phương Đông (Thanh long) và phương Bắc (Huyền vũ).
<195>
Cách tính
Sau Công nguyên, lấy số năm chia cho 28, nếu số dư bằng 0 thì năm đó do sao Khuê gây ảnh hưởng (số dư chớ không phải số thành), nếu số 1 = sao Lâu, số 2 = sao Vị... (xem bảng số bên dưới).
Bắt đầu từ sao Khuê và theo thứ tự tiếp tục cộng 1. Khuê, Lâu, Vị, Mão, Tất, Chủy, Sâm, Tỉnh, Quỷ, Liễu, Tinh, Trương, Dực, Chẩn, Giác, Cang, Đê, Phòng, Tâm, Vĩ, Cơ, Đẩu, Ngưu, Nữ, Hư, Nguy, Thất, Bích.
Thí dụ
* Tìm sao gây ảnh hưởng cho năm 1990?
Lấy số 1990 chia cho 28, số dư còn lại là 2. So vào bảng số tính năm cho sao thấy số 2 thuộc sao Vị. Vậy sao của năm 1990 là sao Vị (số thành là 71, không tính).
* Tìm sao gây ảnh hưởng cho năm 1996?
Lấy số 1996 chia cho 28, số dư còn lại là 8. So vào bảng số thấy số 8 thuộc sao Quỷ. Vậy sao của năm 1996 là sao Quỷ.
* Tìm sao gây ảnh hưởng cho năm 2006?
Lấy số 2006 chia cho 28, số dư còn lại là 18. So vào bảng số thấy số 18 thuộc sao Đê. Vậy sao của năm 2006 là sao Đê.
Xác định sao của tháng
Tháng Giêng của năm sao Giác là sao Tâm. Mỗi tháng sao thay đổi. Chu kỳ của sao là 28. Một năm có 12 tháng, vì vậy chu kỳ của tháng là 12. Bội số chung nhỏ nhất của 28 và 12 là 84. Số 84 = 28 x 3 = 12 x 7. Như vậy theo chu kỳ 7 năm thì tháng Giêng và sao Tâm trùng trở lại. Chỉ cần tìm sao của tháng Giêng mỗi năm để tính các tháng kế tiếp.
Điều cần nhớ trong phương pháp xác định sao của tháng là: Năm tính theo dương lịch, còn tháng tính theo âm lịch.
Cách tính
* Đầu tiên lấy số năm muốn tính chia cho 7 để xem được bao nhiêu lần tháng Giêng (chu kỳ). Lấy số dư (D) nhân với 12 để được số tháng dư (T). Sẽ có hai trường hợp sau:
- Nếu T + 5 > 28 thì lấy T + 5 - 28 = S. S là số sao của tháng Giêng cần tìm.
- Nếu T + 5 <> là lớn hơn; dấu <>Thí dụ
* Tìm sao của tháng Giêng năm 1990?
Lấy số 1990 chia cho 7, số dư còn lại là 2 (D). Lấy số dư 2 x 12 = 24 (T) + 5 = 29 (S). Vì S > 28, nên lấy số 29 - 28 = 1
Vậy sao của tháng Giêng năm 1990 là sao Giác (S = 1).
* Tìm sao của tháng Giêng năm 1996?
Lấy số 1996 chia cho 7, số dư còn lại là 1 (D). Lấy số dư 1 x 12 = 12 (T) + 5 = 17 (S).
Vậy sao của tháng Giêng năm 1996 là sao Vị (S = 17).
* Tìm sao của tháng Giêng năm 2006?
Lấy số 2006 chia cho 7, số dư còn lại là 4 (D). Lấy số dư 4 x 12 = 48 (T) + 5 = 53 (S).
Vì S > 28, nên lấy số 53 - 28 = 25. Theo thứ tự số 25 là sao Tinh
Vậy sao của tháng Giêng năm 2006 là sao Tinh (S = 25).
Lời kết
Cuộc đời tựa như biển cả, thường êm ả dù bên dưới có luồng hải lưu chuyển động không ngừng, nước thủy triều lên xuống và không có sóng to gió lớn. Nhưng đôi khi biển cả nổi sóng lớn cuồn cuộn sẵn sàng hủy diệt những gì ngăn chận nó. Người sống trên đời như đang cỡi trên lượn sóng đó, càng được nâng cao càng cảm thấy tràn đầy niềm vui để rồi trong nháy mắt bị lượn sóng đổ ụp xuống, chới với ngã té trong đau khổ và tuyệt vọng. Càng đeo đuổi niềm vui vật chất chừng nào thì càng chuốc lấy đớn đau sầu khổ chừng nấy. Đến chừng nghiệm ra thì... ôi thôi! lỗi tại ta mọi đàng!
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu: Ngày Hoàng đạo
Lời thầy dạy
'Dù có học vấn và kiến thức cao thâm đến đâu, hãy vẫn cảm thấy mình còn thấp kém cần học hỏi, như vậy trí tuệ mới ngày một thăng tiến'.
Một cái ly chứa đầy nước sẽ không bao giờ nhận được nước thêm nữa, nước sẽ tràn ra ngoài. Có cảm thấy mình còn yếu kém mới cần học hỏi thêm, bằng không sẽ trở nên tự mãn thì sẽ giống như con thuyền không chèo chống, nó bị sức nước đẩy lui về sau vậy.
Sách báo là phương tiện tôi luyện óc sáng tạo cho con người. Nó là người thầy dạy kiến thức ngoài trường đời và cũng là người bạn để giải buồn. Càng đọc sách báo để trau dồi trí tuệ thì nhân cách con người càng tao nhã, vì trí thức là một trong những điều kiện để phát huy tâm hồn cao thượng.
Sách là công cụ truyền bá văn hóa, báo chí là phương tiện truyền thông, là khí giới đấu tranh cho chân lý. Một bài viết hay một cuốn sách dầu có dở đi chăng nữa, người viết cũng đã lao khổ với những dòng tư tưởng của họ, họ cũng đã mất nhiều thời giờ suy ngẫm mới viết ra được. Nếu đọc sách báo với ác ý, châm chích thì tự mình đã bỏ mất một cơ hội tốt. Biết đâu từ trong đó mình thu nhận được những lời hay ý đẹp, ngoại trừ những sách báo dâm ô thì không kể.
Học giả Gibbon nói: 'Đọc sách để suy tư, chớ đừng đọc sách để khỏi suy nghĩ'.
Nên biết cách đọc! Có nhiều người đọc sách báo mà rốt cuộc không thu được lợi ích gì cho kiến thức của họ cả. Đó là những người chỉ đọc một đoạn đầu, một đoạn giữa và một khúc đuôi... rồi xếp quyển sách hay tờ báo lại, cứ tưởng rằng mình đã hiểu biết những gì trong sách báo truyền đạt. Người nào muốn đọc sách báo để thu nhận thêm kiến thức, để giúp cho óc phán đoán thì đừng bao giờ đọc theo cách này!
Có kẻ đọc sách báo để giải buồn, cũng có người đọc sách để tìm sự an ủi cho tinh thần khi bị đau khổ, mong tìm thấy sức mạnh thiêng liêng hầu giúp mình thêm can đảm nhẫn nại, vượt qua cảnh khổ của cuộc đời.
Cũng có người đọc sách báo để chứng tỏ ta đây là người hiểu biết thời sự nóng bỏng để tán gẫu trong lúc 'trà dư tửu hậu' hay 'cà phê luận' tại các quán sá. Đọc cách này, không những không có lợi cho kiến thức mà còn gây hại cho bản thân mình về sau, vì nó tạo cho mình thói quen nói dối khi bị 'bí' đề tài hoặc trình độ hiểu biết nông cạn.
Điểm tối kỵ là lợi dụng người chưa biết mình, tự tâng bốc, khoát lác ca tụng về sự hiểu biết của mình với hy vọng sẽ được cảm tình hoặc sự trọng nể của người đó. Đây là việc làm thiếu khôn ngoan nhất! Vì khi bị phát hiện là kẻ khoát lác, bản thân mình sẽ không còn đất dung thân, bị người cười chê suốt cả cuộc đời!
Sách báo là nơi tập trung tin tức, cập nhật những tư tưởng mới, những sáng kiến, những kinh nghiệm trong đời sống... Do đó đọc thường xuyên để học hỏi, tự trau dồi khả năng và kinh nghiệm là điều tốt.
Người tốt nghiệp ra trường hơn 10 năm về trước, nếu không biết tự học hỏi trau dồi kiến thức nghề nghiệp thì bằng cấp của người đó không còn có giá trị nữa, nó chỉ là tấm giấy lộn để người đó nhìn vào, mù quáng tin rằng mình có thực tài... là tự mình lừa bịp mình thôi! Khoa học ngày càng tiến bộ chớ không ngưng đọng!
Hãy tưởng tượng một kiến trúc sư ra trường vào thập niên 50, không đi làm việc đúng theo khả năng, không xem sách báo về ngành kiến trúc. Đến nay hơn 50 năm, kiến trúc sư này muốn hành nghề trở lại thì thật là... lỗi thời!
Một bác sĩ ra trường năm 1960, chỉ hành nghề tại phòng mạch mà không chịu tu nghiệp thêm, không đọc sách báo về y khoa, đến năm 2006 thử hỏi kiến thức y khoa của bác sĩ này như thế nào? Sẽ cho lầm thuốc hay nặng về liều lượng thì chỉ hại người hại mình!
Nghề võ cũng vậy, người mang đai nhị đẳng, nếu không tập luyện thường xuyên hay chịu khó theo dõi, trau dồi thêm kiến thức võ thuật trên sách báo thì sau 20 năm đầu óc người này trở nên lạc hậu. Bài quyền còn không nhớ, nói chi đến thi đấu? (không biết luật mới).
Tóm lại, đọc sách báo là việc tốt nhưng nếu biết suy luận và phân tích trong tinh thần học hỏi thì mới thực sự hữu ích hơn.
* * *
Ngày xưa các nhà thiên văn tưởng tượng vùng trời trong vũ trụ có một vòng tròn lớn gọi là vòng Hoàng đạo. Họ đem chia vòng này thành 360 độ, hai bên gọi là miền Hoàng đạo, dùng bốn quẻ chánh của Bát quái: Càn, Khảm, Ly, Khôn phân thành bốn phương (bốn mùa). Dùng Thập nhị Địa chi bố trí bốn phương để chỉ bốn mùa cho 12 tháng. Sau đó họ phân nạp 7 tinh tú vào mỗi phương. Mười hai Địa chi sắp xếp theo chiều kim đồng hồ, còn Nhị thập Bát tú thì ngược chiều kim đồng hồ. Do đó sao Phòng đóng ở cung Mẹo là Xuân phân, sao Tinh đóng tại Ngọ là Hạ chí, sao Mão đóng ở cung Dậu là Thu phân, sao Hư đóng tại cung Tý là Đông chí.
Sự chuyển động của Mặt trời và Mặt trăng là quan trọng hơn các tinh tú khác, nó gây ảnh hưởng lớn đến sự sống của vạn vật.
Sự chuyển động của Mặt trời tạo nên sự thay đổi khí hậu bốn mùa, nó cũng làm cho sự vận hành khí huyết trong cơ thể con người thay đổi theo. Thời tiết ấm áp của mùa Xuân thì khí huyết trong người dễ lưu thông, sông suối mạch nước dễ luân lưu. Ngược lại khí trời lạnh rét của mùa Đông thì khí huyết của con người bị ngưng trệ, mạch nước cũng bị đông đặc.
Sự chuyển động của Mặt trăng gây ảnh hưởng đến thủy triều và sinh lý của con người, nhất là những người đang mang những chứng bệnh nan y như phong cùi, ung thư, tê thấp... Ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến việc ăn uống của thú vật, đặc biệt loại thú rừng sinh sống về đêm.
Hệ thống vị trí của Nhị thập Bát tú được các nhà Thiên văn thiết lập theo quá trình xác định chuyển động của Mặt trời và Mặt trăng. Ngoài chuyển động của Mặt trời, Mặt trăng, sự vận chuyển của các hành tinh cũng tạo ra nhiều ảnh hưởng đối với vạn vật và đặc biệt nhất là đối với con người. Trong 5 hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ thì ảnh hưởng của Mộc tinh là lớn nhất. Người xưa gọi nó là Tuế tinh, khi xung nó tạo ra nhiều họa hại cho những mệnh nào bị chiếu. Ngày nay người ta biết khối lượng của thiên thể Mộc tinh lớn gấp 2.5 lần tổng khối lượng các hành tinh trong Thái dương hệ. Chu kỳ quay quanh Mặt trời là 12 năm, trong khoảng thời gian này Mộc tinh, mặt trời và trái đất ở vị trí khác nhau. Người ta cho rằng có thể nó là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc hình thành 12 kinh mạch trong thân thể con người.
Con người sinh sống trong sự vận chuyển của các hành tinh (vật đổi sao dời), nên cuộc đời mỗi con người mỗi khác vì ảnh hưởng của các lành dữ của các hành tinh đó...
Theo các chiêm tinh gia, ngày Hoàng đạo là ngày có nhiều cát tinh hội tụ nên tốt lành. Vì thế các nhà Thuật số chọn ngày này để khai trương, xuất hành, cúng kiến, an táng...
Ngày Hoàng đạo
Thông thường cuốn lịch của các chùa đều có ghi ngày Hoàng đạo. Các nhà Thuật số chia 12 tháng làm 6 cặp tháng, trong cặp tháng đó các ngày Hoàng đạo giống nhau như sau:
- Tháng Giêng, Bảy: Ngày Tý, Thìn và Tỵ.
- Tháng Hai, Tám: Ngày Dần, Ngọ và Mùi.
- Tháng Ba, Chín: Ngày Thìn, Thân và Dậu.
- Tháng Tư, Mười: Ngày Ngọ, Tuất và Hợi.
- Tháng Năm, Mười Một: Ngày Thân Tý, và Sửu.
- Tháng Sáu, Chạp: Ngày Tuất, Dần và Mẹo.
Cách bấm bàn tay
Tính khởi tháng Giêng tại Tý, bấm cách tiết thuận hành để biết các tháng sau đó. Từ cung của tháng nào, bấm liên tiết thuận hành đến cung thứ 5 và 6. Hai Địa chi đó cũng là hai ngày Hoàng đạo kế tiếp.
* Cách bấm tính ngày đầu: Tính khởi tháng Giêng tại Tý bấm thuận hành cách tiết, tháng 2 tại Dần, 3 tại Thìn, 4 tại Ngọ, 5 tại Thân, 6 tại Tuất. Tháng 7 tại Tý trở lại, 8 tại Dần, 9 tại Thìn, tháng 10 tại Ngọ, tháng 11 tại Thân, tháng 12 tại Tuất.
* Cách bấm tính 2 ngày sau: Bấm khởi tại tháng muốn tính đếm 1, bấm liên tiết thuận hành đến cung 5 và cung 6 là 2 ngày Hoàng đạo tiếp theo.
Thí dụ:
- Tháng Giêng, ngày Tý bấm tại cung Tý đọc 1, Sửu đọc 2, Dần đọc 3, Mẹo đọc 4, Thìn đọc 5 và Tỵ đọc 6. Ngày 1: Tý; ngày 5: Thìn; ngày 6: Tỵ. Ngày Tý, Thìn, Tỵ là ngày Hoàng đạo của tháng Giêng và tháng Bảy.
- Tháng Ba, bấm cung Thìn đọc 1, Tỵ đọc 2, Ngọ đọc 3, Mùi đọc 4, Thân đọc 5, Dậu đọc 6. Ngày 1: Thìn; ngày 5: Thân; ngày 6: Dậu. Ngày Thìn, Thân, Dậu là ngày Hoàng đạo của tháng Ba và tháng Chín.
- Tháng Sáu, bấm cung Tuất đọc 1, Hợi đọc 2, Tý đọc 3, Sửu đọc 4, Dần đọc 5, Mẹo đọc 6. 1, 5 và 6 là ngày Tuất, Dần và Mẹo là ngày Hoàng đạo của tháng Sáu, tháng Chạp.
* Xin lưu ý: Nếu ngày Hoàng đạo trùng ngày Ngũ kỵ thì ảnh hưởng tốt sẽ bị triệt tiêu.
Giờ Hoàng đạo
Ngày Hoàng đạo là ngày tốt, nhưng nếu biết dụng giờ Hoàng đạo của ngày Hoàng đạo thì không có gì tốt cho bằng. Giờ Hoàng đạo của ngày:
- Tý, Ngọ: 1-3, 5-7 giờ sáng, 11-1 giờ trưa, 3-5 giờ chiều, 5-7 giờ tối, 11-1 giờ khuya.
- Mẹo, Dậu: 11-1 giờ khuya, 3-5, 5-7 giờ sáng, 11-1 giờ trưa, 1-3, 5-7 giờ chiều.
- Thìn, Tuất: 1-3 giờ sáng, 7-9, 9-11 giờ trưa, 1-3 giờ chiều, 7-9 giờ tối, 11-1 giờ sáng.
- Sửu, Mùi: 1-3 giờ sáng, 7-9 giờ sáng, 11-1, 1-3 giờ chiều, 7-9, 9-11 giờ tối.
- Dần, Thân: 3-5 giờ sáng, 7-9, 9-11 giờ trưa, 3-5, 5-7 giờ tối, 9-11 giờ khuya.
- Tỵ, Hợi: 3-5, 5-7 giờ sáng, 9-11 giờ trưa, 3-5 giờ chiều, 7-9, 9-11 giờ khuya.
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu Trả lời thư độc giả
* Cô Phạm Hoàng Lan (Lakemba NSW 2195)
Hỏi: Con hiểu rất mơ hồ về hai chữ vận mệnh. Xin thầy giải thích hoặc định nghĩa dùm, cám ơn.
Trả lời: Vận là vận khí, mệnh là sinh mệnh, tính mệnh.
- Vận khí thì có khi thông, có khi bị bế tắc. Vận chỉ về khả năng và mức độ may mắn mà đời người phải trải qua.
- Sinh mệnh có thọ có yểu, có sống có chết. Mệnh chỉ về tính tự nhiên của sự sinh tử.
Hai chữ Vận mệnh thường đi kèm với nhau, nó có hàm ý để chỉ tất cả các sự: sang hèn, giàu nghèo, cát hung, họa phúc, hưng phế, thịnh suy, vinh nhục, thọ yểu...
Chẳng hạn như một người luôn gặp may mắn suốt cuộc đời, cho dù gặp nạn lớn trong cảnh binh đao cũng không chết và không bị thương tật. Mọi việc được như ý, công danh thành đạt, sống trường thọ. Người này dễ dàng đạt được những cái mà người khác phải bỏ nhiều công sức mới có thể đạt được, nên người ta bảo là ông ta may mắn có vận mệnh tốt.
Ngược lại có người mới sinh ra đã ở trong một gia đình bất hạnh, lớn lên bị nhiều nạn tai, mang thương tật, mọi việc trắc trở và gặp nhiều ngang trái trong đời sống tình cảm. Thậm chí bị lưu lạc nơi xứ người và cuối cùng là mất sớm. Người ta cho là số của anh ta long đong vì có vận mệnh xấu.
Mỗi một con người đều có vận mệnh khác nhau. Do đó nhiều người cho rằng, vận mệnh là sức mạnh vô hình mà con người khó lòng chi phối hoặc nắm vững được nó.
Tóm lại, có thể tạm định nghĩa vận mệnh như sau: Vận mệnh là sức mạnh thần bí, một mô thức cố định của tạo hóa dành cho từng người, nó quyết định sự sinh tử thọ yểu, phú quý bần tiện, vinh nhục suốt cuộc đời của người đó.
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu: Ngày bất tương
Lời thầy dạy
'Đừng vội kết luận theo lối chủ quan và tránh cãi vã với người'.
Hãy nghe câu chuyện này:
Sau khi đi du lịch ở Alice Springs, vùng Northern Territory trở về, tất cả học sinh đều phải viết bài luận văn tả cảnh đá thần Uluru theo lời yêu cầu của người thầy. Trong lớp có hai người viết xong, trao đổi xem bài lẫn nhau trước khi nạp. Một lúc sau cả hai cãi vã, không ai chịu cho bài của người kia là đúng chỉ vì màu sắc của đá thần. Người thầy sau khi xem qua các bài luận văn đều gật đầu ngợi khen, nhất là bài của hai người. Thấy thế, một trong hai người lên tiếng khiếu nại:
- Thưa thầy, nếu bài của con đúng thì bài của anh ta phải sai, hoặc bài của anh ta đúng thì bài của con sai, chớ không thể nào cả hai bài đều đúng được. Con tin rằng bài của con đúng, còn của anh ta thì sai.
Người thầy mỉm cười bảo:
- Nếu con chịu nghĩ ra thời điểm khác nhau mà con và bạn của con tả màu sắc của đá thần thì con sẽ hiểu được cả hai đều đúng. Con tả đá thần vào buổi sáng sớm nên có màu xanh của núi, còn người bạn con tả đá thần vào buổi trưa nắng nên có ửng màu xám đỏ. Tại sao con bảo bài của con đúng, còn của bạn con sai?
Câu chuyện minh họa nêu trên cho chúng ta một bài học là nếu chưa hiểu được sự việc thì đừng bao giờ cho rằng mình đúng còn người thì sai. Chỉ có những bậc đại trí mới thấy được 'chân tướng' của sự vật, còn nếu là người bình thường thì khó lòng nhìn thấy. Cho nên nếu mình có giỏi hơn người khác, cũng chỉ ở một vài phương diện nào thôi, chớ không thể hơn về mọi mặt!
Sự vật thì vô thường, còn sự hiểu biết của mỗi con người có hạn, nên suy nghĩ lại, cố tránh cãi vã vì bất đồng quan điểm là điều nên làm. Được như vậy trong lòng mình sẽ thoải mái và nhẹ nhàng hơn. Hãy nhớ đây là chìa khóa của cánh cửa an lạc! Thiện tai!
* * *
Ngày xưa, trước khi dựng vợ gả chồng cho con cháu, các cụ thường nhờ người thầy xem tuổi của đôi trẻ để lương duyên của chúng khỏi bị 'nửa đường gẫy gánh' hay tránh cho chúng khỏi bị cảnh phu thê 'ly biệt' khi phạm 'cô phòng quả tú'. Ngày nay, quan niệm về hôn nhân đã thay đổi. Nam nữ 'phải lòng' thương yêu nhau thì việc cưới gả tiếp theo là lẽ thường tình. Cho dù ông bà cha mẹ biết trước sự đổ vỡ cũng không thể nào ngăn cản được! Thôi thì cứ xem như đôi trẻ có duyên 'tiền định' cho lòng mình thanh thản. Còn chúng có 'nợ' lâu dài với nhau hay không là còn tùy 'duyên phận'.
Ở thập niên 50 trở về trước, người thầy xem tuổi để chọn đối tượng tốt theo yêu cầu thì không có tội. Thời đó con cái không được quyền tự do luyến ái, việc hỏi cưới đều nằm trong tầm tay, trong sự sắp đặt của ông bà cha mẹ. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Ngày nay, khi đôi trẻ đã 'phải lòng' nhau, người thầy xem thấy tuổi của hai trẻ bị kỵ hay không hạp, chắc chắn cha mẹ đôi bên bắt buộc phải 'chia loan rẽ thúy' thì thật là... Tội lỗi! Tội lỗi!
Do đó, không xem tuổi hạp của 'lứa đôi' trong thời đại này thì không có gì sai trái, nhưng cũng cần nên biết ngày, tháng, năm kiêng kỵ trong việc gả cưới để giúp cho đôi trẻ sống hạnh phúc lâu dài bên nhau là điều tốt vậy!
Năm kỵ cưới gả
Người xưa kỵ dựng vợ gả chồng vào năm kỵ cho nam và nữ theo tuổi ta như sau:
* Nam: Bấm năm cầm tinh đếm 1, bấm liên tiết thuận hành theo bàn tay Địa chi đến cung thứ 8 là năm kỵ lấy vợ. Thí dụ:
- Nam tuổi Tý: Bấm Tý đếm 1, Sửu đếm 2, Dần đếm 3, Mẹo đếm 4, Thìn đếm 5, Tỵ đếm 6, Ngọ đếm 7 và Mùi đếm 8. Tuổi Tý kỵ cưới vợ năm Mùi.
- Nam tuổi Dậu: Bấm Dậu đếm 1, Tuất đếm 2, Hợi đếm 3, Tý đếm 4, Sửu đếm 5, Dần đếm 6, Mẹo đếm 7 và Thìn đếm 8. Tuổi Dậu không nên lập gia đình vào năm Thìn.
Bấm hết tuổi của 12 con giáp sẽ thấy các năm kỵ như sau:
- Tuổi Tý kỵ năm Mùi.
- Tuổi Sửu kỵ năm Thân.
- Tuổi Dần kỵ năm Dậu.
- Tuổi Mẹo kỵ năm Tuất.
- Tuổi Thìn kỵ năm Hợi.
- Tuổi Tỵ kỵ năm Tý.
- Tuổi Ngọ kỵ năm Sửu.
- Tuổi Mùi kỵ năm Dần.
- Tuổi Thân kỵ năm Mẹo.
- Tuổi Dậu kỵ năm Thìn.
- Tuổi Tuất kỵ năm Tỵ.
- Tuổi Hợi kỵ năm Ngọ.
* Nữ: Không theo nguyên tắc như nam và tuổi kỵ lấy chồng vào các năm sau đây:
- Tuổi Tý kỵ năm Mẹo và tuổi Mẹo kỵ năm Tý.
- Tuổi Sửu kỵ năm Dần và tuổi Dần kỵ năm Sửu.
- Tuổi Thìn kỵ năm Hợi và tuổi Hợi kỵ năm Thìn.
- Tuổi Tỵ kỵ năm Tuất và tuổi Tuất kỵ năm Tỵ.
- Tuổi Ngọ kỵ năm Dậu và tuổi Dậu kỵ năm Ngọ.
- Tuổi Thân kỵ năm Mùi và tuổi Mùi kỵ năm Thân.
Ngày tốt
Các nhà Thuật số luôn chọn các ngày tốt để cưới gả, họ chọn:
- Ngày Bất tương.
- Ngày có nhiều cát tinh như: Thiên Hỷ, Thiên Đức + Nguyệt Đức, Tam Hiệp, Ngũ hiệp, Lục hiệp.
- Ngày trực Bình, trực Định, trực Thành, trực Thâu.
Ngày kiêng kỵ
Nên tránh các ngày dưới đây:
- Ngày Tam nương, Sát chủ dương và Nguyệt kỵ.
- Ngày có hung tinh như: Trùng phục, Thiên hình, Thiên tặc, Địa tặc, Nguyệt phá, Nguyệt sát, Nguyệt hỏa, Nguyệt yểm, Vãng vong, Sát thê.
- Ngày kỵ tuổi (Thiên khắc, Địa xung).
- Ngày trực Kiến, trực Phá, trực Nguy.
Ngày bất tương
Bất là không, tương là tương hợp. Nghĩa ở đây là không bị Âm tương, không bị Dương tương, không bị Cụ tương và bất tương là ngày đại kiết để dựng vợ gả chồng.
- Âm tương: Can Âm (-) phối Chi Âm (-), kỵ cho nữ.
- Dương tương: Can Dương (+) phối Chi Dương (+), kỵ cho nam.
- Âm Dương cụ tương: Can Âm (-) phối hợp Chi Dương (+), nam nữ đều bị kỵ.
- Âm Dương bất tương: Can Dương (+) hòa hợp với Chi Âm (-) thì tốt cho cả nam lẫn nữ.
Ngày bất tương của mỗi tháng
Để giúp độc giả dễ dàng tìm ngày bất tương, Vô Chiêu liệt kê các ngày này trong bảng phân chia theo từng tháng dưới đây.
Lời kết
Kết luận theo lối chủ quan và cãi vã là thất sách, cho dù có hơn người cũng không mang lợi ích gì cho cuộc sống. Còn nếu như thua người, trong lòng hổ thẹn, buồn rầu sinh ra sân hận... là tự mình mở cửa địa ngục mà thôi!
Cổ nhân nói: 'Không biết khiêm nhường, không biết hổ thẹn, không biết phải trái và không biết thương người thì không phải là... con người!'.
Khiêm nhường là đầu mối của lễ.
Hổ thẹn là đầu mối của nghĩa.
Biết phải trái là đầu mối của trí.
Lòng thương người là đầu mối của nhân.
Người có đủ bốn đức tính 'lễ, nghĩa, trí, nhân' sẽ không bao giờ kết luận theo lối chủ quan hoặc cãi vã với người khác. Còn nếu như thiếu một hoặc hai trong bốn đức tính này mà chẳng chịu suy nghiệm để tu sửa là tự hủy hoại danh dự của mình mà thôi!
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu trả lời thư độc giả
* Bà T. T. Phúc (Bonnyrigg, NSW 2177)
Hỏi: Tôi có người bạn láng giềng, mới dọn nhà về ở bên cạnh được hơn ba tháng. Tánh tình của bà ta cũng rất dễ thương theo cái nhìn của cá nhân tôi và những người lân cận. Thời gian qua bà ta có than phiền rằng, chồng bà mua căn nhà này trật với Phong thủy nên bà ta thường nóng giận 'dằn mâm xốc chén' và ông chồng ngày càng lạnh nhạt như muốn xa lánh bà...
Cửa nhà bà cùng hướng chánh Tây giống như nhà tôi. Chồng bà tuổi Canh Dần và bà ta tuổi Giáp Ngọ. Thấy tội nghiệp, tôi vội viết thư này nhờ thầy chỉ giúp bà ta, kể như tôi làm thêm được một việc thiện. Xin cám ơn nhiều.
Trả lời: Đúng lý ra thư này được chuyển sang cô Giang Thủy để trả lời trên trang 'Những mảng tơ lòng' nhưng vì thấy bà có lòng tốt khi viết... gần bốn trang kể hết chuyện của người bạn láng giềng chỉ với một yêu cầu 'kể như tôi làm thêm được một việc thiện'. Thôi thì vì câu này, nên ráng trả lời theo ý bà mong muốn!
- Tuổi Canh Dần thuộc Tây tứ mệnh, cửa nhà ở hướng chánh Tây là hướng tốt (Duyên niên). Hướng chánh Tây cũng tốt cho nữ tuổi Giáp Ngọ (Thiên y). Do đó hướng cửa chánh không có gì trật theo Phong thủy, còn bếp, đầu nằm ngủ... Vô Chiêu hoàn toàn không biết nên xin được miễn bàn.
- Theo Phong thủy, hành động 'dằn mâm xốc chén' trong lúc nóng giận, hoặc thường xuyên làm bể, hay đập phá đồ đạc trong nhà là tượng xấu gây nên đổ vỡ và chia ly. Mặc dù không biết cảnh thiên đàng và địa ngục ra sao, nhưng chắc chắn về mặt tâm lý thì không một ai muốn sống trong cảnh địa ngục. Do đó việc ông chồng bà ta ngày càng lạnh nhạt như muốn xa lánh... thì điều này không dính dáng gì đến Phong thủy, xin đừng đổ oan, tội nghiệp!
Bản tánh của mỗi người mỗi khác, người xưa có nói: 'Giang sơn dị cải, bản tánh nan di'. Giang sơn dễ đổi, bản tánh khó sửa. Bản tánh con người khó thay đổi nếu không có 'ngoại lực' trợ giúp. Nhưng nếu bà có lòng giúp người thì đây là cơ hội trong tầm tay, bà chỉ cần giải thích cho bà ấy hiểu câu 'đất lành, chim đậu' thì chuyện lớn sẽ hóa nhỏ...
Đề nghị, nếu về sau bà gặp tình cảnh khó khăn của người khác như trường hợp này, xin thư về cô Giang Thủy để Vô Chiêu khỏi bị trách là 'dẫm chân' lên việc của người khác. Trân trọng!
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu: Tốt xấu của những con số
Vô Chiêu
Lời thầy dạy
Tuân Tử nói: 'Biết và làm là một', nghĩa là biết mà làm được mới thật là biết.
Học thì phải biết, biết thì phải làm, chớ không phải học để lấy cái hiểu biết của mình mà đi lừa dối thiên hạ rồi chính bản thân mình lại không làm những điều mình biết.. Học là nghe, thấy, hiểu, biết đến nơi đến chốn làm được mới thôi.
Cái học của người quân tử không phải là cái học ở cửa miệng, mà học bằng tâm trí để biến cải cái tính xấu của mình, khiến cho lời nói hành động phải đi đôi để làm khuôn phép, chớ không phải để khoe với người và làm những điều phi nhân phi nghĩa. Học theo kiểu tai nghe, miệng nói, không có ích gì cho thân tâm thì chỉ là cái học của kẻ tiểu nhân mà thôi!
Người quân tử mở rộng cái tâm thì hợp đạo trời, thu nhỏ lại thì lo sợ phạm điều nghĩa mà tiết độ... tin mình rồi mới muốn người tin mình, ngay thẳng rồi mới muốn người ta thân với mình, sửa cái trật của mình rồi mới muốn người ta cho mình là phải... nên làm thì yên, giữ thì vững, thành đạt mà trong lòng không gặp cái mình ghét.
Ngược lại kẻ tiểu nhân mà mở rộng cái tâm tánh thì ngạo mạn, còn thu nhỏ lại thì ngang tàng phóng đãng... làm những điều không thật mà muốn người ta tin mình, gian trá mà muốn người ta thân mình, làm những điều bất nhân bất nghĩa mà muốn người đời cho là phải... nên làm thì không yên, giữ thì khó vững, thành đạt thì gặp nhiều cái đáng ghét.
Con nên học hỏi câu nói sau đây của học giả Lâm Ngữ Đường:
'Răn mình thì nên như khí mùa thu (nghiêm khắc), còn xử thế thì nên như cái khí của mùa xuân (vui vẻ, ôn hòa)'.
Số đứng trước: Số trời, số mệnh, số chẵn, số lẻ, số lượng, số nhân, số chia, số nhà, số xe, số đỏ... Số thứ tự, số tử vi, số đào hoa, số độc đắc.
Số đứng sau: Hằng hà sa số, tận cùng bằng số, đức năng thắng số... Mẫu số, tử số, căn số, phân số, trị số, tổng số, tần số, mã số, ẩn số, duyên số, cây số, gài số, sang số, bảng số, sai số, đáp số, quân số, tướng số, vô số, xổ số, mua số. Người ta mong nhất là trúng số nhưng lại ghét và sợ nhất hai chữ 'tới số' hay 'xấu số' hoặc 'tận số' đến với mình.
Các vị cao niên thường nói: 'Giày dép còn có số, nói chi đến xe cộ hay con người!'.
Tại Úc, trong khoảng thời gian từ năm 1984 - 2003, người ta thường thấy nhiều xe mang bảng số lưu hành có các con số 7 như: 667, 767, 777. Bước qua năm 2004 đến nay, các bảng số 7 đều biến mất, thay vào đó có rất nhiều xe với các con số 8 như: 88, 838, 868 hay 888 trên bảng số. Nhiều đến nổi có người vào RTA xin bảng số có nhiều số 8 cũng không còn là tại sao?
Tại vì các con số 8 là số vượng khí của lưu niên vận 8. Do chỉ điểm của các nhà Thuật số nên nhiều người đăng bộ lấy các số 8 với niềm tin nhờ khí vận tốt lành mà cuộc đời họ được bình an và may mắn. Nhưng thật ra họ nghe không rõ nên đôi khi ứng dụng sai với lý của Thuật số. Để giải tỏa phần thắc mắc của quý độc giả, Vô Chiêu xin luận bàn về những con số tốt xấu theo Thuật số để quý vị nghiên cứu.
Trước hết xin được nhắc lại về Hà đồ và Lạc thư.
Hà đồ
Theo truyền thuyết, con Long Mã đội đồ bản xuất hiện trên sông Hoàng Hà, đồ bản này là do trời ban cho Phục Hi để trị vì thiên hạ. Trong đồ bản có 55 chấm đen trắng, người ta gọi là Hà Đồ (hình 8).
Hà Đồ có hai vòng trong và ngoài với các con số chỉ bốn phương Đông Tây Nam Bắc: Đông bên trái, Tây bên phải, Nam ở trên và Bắc bên dưới. Số dương (thiên) gồm các con số lẻ có chấm tròn trắng như số: 1, 3, 5, 7, 9. Cộng được 25 gọi là số trời. Số âm (địa) là các con số chẵn có chấm tròn đen: 2, 4, 6, 8, 10. Cộng lại thành 30 gọi là số đất. Do số âm lớn hơn dương nên từ đó người ta luôn gọi là âm dương chớ không gọi dương âm.
Các con số chỉ bốn phương: Đông = 3; Tây = 4; Nam = 2, Bắc = 1 và Trung cung = 5.
- Phương Đông: 3 dương + 5 dương = 8 âm (chấm đen).
- Phương Tây: 4 âm + 5 dương = 9 dương (chấm trắng).
- Phương Nam: 2 âm + 5 dương = 7 dương (chấm trắng).
- Phương Bắc: 1 dương + 5 dương = 6 âm (chấm đen).
- Trung ương: 5 dương + 5 dương = 10 âm (chấm đen).
Vì thế nên người ta gọi các số 1, 2, 3, 4, 5 là số sinh và các số 6, 7, 8, 9, 10 là số thành (biến). Tổng cộng là 55.
Người xưa lý luận rằng, ở phương Bắc có nhiều mưa, lạnh lẽo nên thuộc hành Thủy. Phương Nam nhiều nắng nóng, thuộc hành Hỏa. Phương Đông ấm áp nên cây cối tươi tốt thuộc hành Mộc. Phương Tây mát mẻ hành Kim. Trung ương là đất nuôi dưỡng và cũng là nơi nhận lại tất cả nên nó thuộc hành Thổ. Do đó cặp số 1-6 là biểu thị số sinh và số thành của Thủy; cặp 2-7: Hỏa; cặp 3-8: Mộc và cặp 5-10: Thổ. Nhìn vào các con số trên người ta thấy nó hình thành trục tung Nam-Bắc, trục hoành Đông-Tây.
Lạc Thư
Tương truyền rằng vua Vũ nhân dịp đi du ngoạn trên sông Lạc Thủy (nhánh của Hoàng Hà) thấy rùa thần nổi lên ban cho kỳ thư trị thủy. Trên mai cụ rùa có nhiều chấm đen trắng, cho là điềm lành nên vua Vũ gọi kỳ thư này là Lạc Thư (hình 9).
Lạc Thư gồm những chấm trắng đen cộng lại thành 45 như sau:
Số dương gồm những chấm trắng: 1, 3, 5, 7, 9 cộng thành 25 (giống Hà Đồ).
Số âm gồm chấm đen: 2, 4, 6, 8 cộng thành 20 (kém hơn Hà Đồ 10).
Biểu tượng cho số dương hay âm của Lạc Thư đều như Hà Đồ, nhưng số có phần khác biệt: Số 5 ở giữa gọi Ngũ trung thuộc hành Thổ; số 3 ở phương Đông (Mộc); số 7 ở phương Tây (Kim); số 9 ở phương Nam (Hỏa); số 1 ở phương Bắc (Thủy). Số 2 ở Tây Nam (Thổ); số 4 ở Đông Nam (Mộc); số 6 ở Tây Bắc (Kim); số 8 ở Đông Bắc (Thổ). Nếu để Lạc Thư chồng lên Hậu thiên Bát quái chúng ta sẽ thấy có sự tương quan chặt chẽ ở các hướng.
Trên hình của Lạc Thư nhìn từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, rồi cộng hàng ngang hay hàng dọc hoặc đường chéo đều bằng 15. Hình vuông này được gọi là ma phương (hình 10). Nó cũng đã được người Tây phương tìm thấy vào thời Trung cổ và sau này được nhà triết và toán học Pythagore công nhận là bản thể của vạn vật trong vũ trụ (vũ trụ luận).
Theo Hà Đồ
* Số 1 là Thiếu dương, là số khởi đầu cho việc sinh ra các số âm dương khác: 1 + 2 = 3; 1 + 3 = 4; 1 + 4 = 5; 1 + 6 = 7...
* Số 2 là Thiếu âm, là số sinh ra các số âm khác:
- Âm + âm = Âm. Như: 2 + 2 = 4; 2 + 4 = 6; 4 + 4 = 8...
* Số 3 là Thái dương do Thiếu dương 1 + Thiếu âm 2.
- Dương + dương = Âm. Như: 1 + 3 = 4; 3 + 3 = 6; 3 + 5 = 8...
* Số 4 là Thái âm do Thiếu dương 1 + Thái dương 3; hoặc hai Thiếu âm 2 + 2.
- Dương biến thành âm: 1 + 1 = 2; 1 + 3 = 4; 1 + 5 = 6; 1 + 7 = 8; 1 + 9 = 10. Dương động.
- Âm thì vẫn hoàn âm: 2 + 2 = 4; 2 + 4 = 6; 4 + 4 = 8; 8 + 2 = 10. Vì bất biến nên người ta bảo là âm tịnh.
Theo Lạc Thư
Số 5 của đất thuộc Thổ, là số để các số âm dương tiếp xúc với nó để biến:
- Lấy số dương: 1, 3, 5, 7, 9 cộng hay trừ 5 đều biến thành số âm, cho thấy dương sinh âm.
- Lấy số âm: 2, 4, 6, 8 cộng hay trừ 5 đều trở thành số dương, cho thấy âm sinh dương.
Nếu bỏ số 5 ở giữa, tổng cộng các số âm và dương đều bằng nhau. Các số dương ở bốn phương chính, các số âm ở bốn hướng phụ.
Xét luận các con số
Các nhà Thuật số xét các con số để luận tốt xấu:
Theo âm dương
Số dương gồm: 1, 3, 5, 7, 9. Số âm gồm: 0, 2, 4, 6, 8, 10.
Nếu các con số thuộc âm hoặc dương quân bình và có chiều hướng đi lên (thuận tiến) thì tốt, nó mang lại sự tốt lành cho người chủ hay người liên hệ. Còn ngược lại dãy số mà âm dương mất quân bình thì xấu và nếu như nó đã mất quân bình vừa đi xuống thì càng xấu hơn. Quân bình là các con số âm và số dương bằng nhau, một âm thì một dương, 2 âm thì 2 dương, tuy nhiên một hay hai số chênh lệch cũng không sao nếu là một chuỗi số. Xấu nhất là những chuỗi số thuần dương hay thuần âm (bất sinh).
Thí dụ:
Số thuần dương: 579, 1357...
Số thuần âm: 046, 6080...
Số âm dương cân bằng và đi lên như: 58, 5689... Tốt.
Số âm dương cân bằng và đi xuống như: 85, 9856... Không được tốt.
Số thuần dương đi lên: 35, 357, 1379... Xấu
Số thuần dương đi xuống 53, 753, 9731... Rất xấu.
Theo ngũ hành
Các nhà Thuật số tính ngũ hành của các con số theo Cửu tinh. Nhất bạch, nhị hắc, tam bích, tứ lục, ngũ hoàng, lục bạch, thất xích, bát bạch và cửu tử nên: Số 1 hành Thủy; số 0, 2, 5 và 8 hành Thổ; số 3 và 4 hành Mộc; số 6 và 7 hành Kim; số 9 hành Hỏa.
Ngũ hành của các con số cần phải tương sinh, hoặc đồng hành với ngũ hành của mạng chủ mới tốt. Còn như hành của mạng chủ bị hành của con số khắc thì xấu. Thường tính số cuối cùng, nếu trong chuỗi số có nhiều số giống nhau thì tính hành của các số đó cho chuỗi số.
- Số có hành là Kim thì tốt cho người mạng Thủy hoặc mạng Kim. Nó gây ảnh hưởng xấu cho người mạng Mộc, làm hao tổn cho người mạng Thổ: 16, 67, 276, 6267...
- Số hành Mộc, tốt cho người mạng Hỏa hoặc mạng Mộc. Nó gây ảnh hưởng xấu cho người mạng Thổ, làm hao tổn cho người mạng Thủy: 23, 34, 434, 9344, 03383...
- Số hành Thủy, tốt cho người mạng Mộc hay mạng Thủy, xấu cho người mạng Hỏa, làm tổn hao cho người mạng Kim: 21, 41, 411, 2581, 10581, 101681...
- Số hành Hỏa, tốt cho người mạng Hỏa hoặc mạng Thổ, xấu cho người mạng Kim, làm hao tổn cho người mạng Mộc: 29, 69, 499, 4389, 20599, 430899,
- Số hành Thổ, tốt cho người mạng Kim hoặc mạng Thổ, xấu cho người mạng Mộc, làm hao tổn cho người mạng Hỏa: 25, 58, 208, 2058, 25082, 802258...
Theo lưu niên vận
Các con số cần phải hợp với số tốt của lưu niên vận mới đặng tốt.
Một tam ngươn có 9 lưu niên vận, mỗi ngươn có 3 vận.
- Thượng ngươn: Vận 1 khởi đầu từ năm Giáp tý 1864 đến 1883. Vận 2 khởi từ năm Giáp Thân 1884-1903. Vận 3 khởi từ năm Giáp Thìn 1904-1923.
- Trung ngươn: Vận 4 khởi từ năm Giáp Tý 1924-1943. Vận 5 khởi từ năm Giáp Thân 1944-1963. Vận 6 khởi từ năm Giáp Thìn 1964-1983.
- Hạ ngươn: Vận 7 khởi từ năm Giáp Tý 1984-2003. Vận 8 khởi từ năm Giáp Thân 2004-2023. Vận 9 khởi từ năm Giáp Thìn 2024-2043. Sau đó bắt đầu lại từ vận 1 của Tam ngươn mới.
Năm 2003 thuộc vận 7 thì số 7 là số vượng khí, nhưng đến 2004 thì số 8 là số vượng khí, số 7 bị lỗi thời trở thành số xấu, mang nhiều bất lợi về mặt tài lộc, thị phi cho những ai gặp nó, nhất là về nữ giới.
Hiện tại đang ở vận 8 (hình 10a), là vận tốt nhất nên được nhiều cát tinh chiếu, phát ra nhiều sự tốt lành cho: Số 2, 8: Vượng khí, rất tốt. Số 1, 3, 4, 6: Sinh khí, tốt. Số 0: Bình, tùy thuộc con số đứng sau nó. Các con số tốt này phải theo chiều hướng đi lên thì mới đạt được sự tốt đẹp nhất.
Không nên dùng đến số 5, 7, 9, vì số 5: Mặc dù có sinh khí nhưng không tốt. Số 7: Đã phát hết khí nên lỗi thời, xấu. Số 9: Bị suy khí, xấu.
Một số người nghĩ rằng chọn các số cộng lại thành số 9 thì sẽ gặp nhiều may mắn, nhưng họ đâu biết rằng họ đang làm sai nguyên tắc của Thuật số. Họ chọn các số: 009, 225, 117, 252, 711 hay 117... là những số xấu vì có cửu tử, thất xích, ngũ hoàng và các số 1 và 7 là số dương!
Nhìn vào các con số 88, 888 và 8888, nhiều người tưởng rằng càng nhiều số 8 thì càng tốt, nhưng thật ra nó là số thuần âm thiếu số dương nên không tốt. Muốn tốt cần phải có thêm số dương bên cạnh để âm dương hòa hợp và số phải đi lên: 81, 138, 388, 1388. Nếu mệnh chủ hành Thổ hay Kim thì các số này là số tốt đẹp. Nếu mệnh chủ hành Thủy thì nó trở nên xấu. Nếu mệnh chủ hành Hỏa thì không được tốt lành.
Tóm lại
- Những con số tốt đẹp là những con số mà âm dương hòa hợp, tương sinh cho ngũ hành của bản mệnh và được vượng khí trong lưu niên vận.
- Những con số xấu là những con số bị mất quân bình về âm dương, tương khắc với ngũ hành bản mệnh và bị suy khí theo lưu niên vận.
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu: Chọn mua đất, nhà
Vô Chiêu
Lời thầy dạy:
'Dùng cường quyền, uy thế để buộc người nghe và làm theo ý mình là điều nghịch lý'.
Phàm cái phải quấy của người chẳng qua ở chỗ thuận nghịch với ý tưởng sẵn trong đầu của mình mà thôi! Nếu đồng ý kiến với mình thì cho là đúng, còn bất đồng ý kiến thì mình cho là người sai. Đây là lẽ thường tình của người đời từ xưa đến nay.
Ở đời không ai chịu nhận mình sai, cho dù là tay đại gian ác như Tào Tháo cũng không bao giờ nhận mình là gian ác, dù chính ông ta là kẻ đại gian, đại ác.
Hơn nữa, do trình độ hiểu biết của người, mình không thể bắt họ phải chấp nhận được những gì họ chưa hiểu. Tự suy lại mình, nếu trình độ hiểu biết của mình chưa đủ thì không thể bắt mình phải chấp nhận những điều đúng của người khác mà mình chưa thông suốt.
Nếu không 'ngộ' lý lẽ này mà bắt buộc người hoặc mong người phải ngã theo ý mình thì không còn gì dở cho bằng. Nói người mê muội, thật ra mình còn muội mê gấp trăm lần họ! Đã như vậy mà còn tỏ ra bực tức thì không gì ngu xuẩn hơn!
Nói hay viết những lời mà người ta không hiểu, biết đâu không phải vì người ta dại, mà là mình ngu, nghĩa là mình không biết cách làm cho người nghe hoặc người đọc hiểu. Giống như người thầy dạy học trò mà học trò không hiểu, đừng vội kết luận là học trò đó ngu, mà phải tự trách mình và nên xét lại phương pháp dạy của mình có gì sai trái không?
Tại sao những gì mình suy nghĩ là đúng? Ý của người suy tư lại sai? Bởi vậy cổ nhân có nói: 'Cái sướng của người trí làm cho kẻ ngu lấy làm bực mình, cái sướng của kẻ ngu làm người trí lấy đó làm khó chịu'. Sự vật trên cõi đời này biến đổi không ngừng, thiên hình vạn trạng. Điều phải hôm nay, biết đâu năm sau lại trở nên quấy. Cái quấy của ngày hôm nay, biết đâu chừng tháng sau lại trở nên phải. Cái họa hôm nay lại là cái phúc ở vài ngày sau, như câu chuyện Tái ông thất mã...
Do đó hãy nhớ rằng, nếu mình có hơn người khác cũng chỉ hơn ở một vài phương diện nào đó, chớ không phải hơn tất cả các phương diện khác! Sự vật thì vô thường, còn sự hiểu biết của mỗi người có hạn, cho nên cố tránh cãi vả khi bất đồng quan điểm là điều nên làm, như thế trong lòng sẽ được thoải mái và an vui hơn. Đây là chìa khóa của sự thành công về sau vậy! Thiện tai! Thiện tai!
* * *
Thuật Phong thủy là môn học cổ của người xưa dùng để chọn lựa vùng đất để lập nên thành thị, làng xã, thôn xóm, hay chọn cuộc đất để xây chùa chiền, cung điện hoặc cất nhà ở... Người xưa chọn đất đai theo ba phương diện sau đây:
- Địa điểm vùng cư trú, khí hậu, đất đai...
- Gần đường giao thông, nguồn nước và thế đất.
- Dựa vào hai điều trên, người ta tìm thêm những biểu tượng nhằm thoả mãn nhu cầu tâm lý như cầu điều tốt lành tránh né điều dữ. Như chọn hướng nhà cửa hợp với mệnh chủ...
Vì vậy trước khi chọn nhà đất người ta xem vùng đất có gần sông hồ và đồi núi hay không, có cây cối xum xuê trong phong cảnh hữu tình, không khí có trong lành, cuộc đất có được tàng phong tụ khí? Họ luôn quan niệm rằng, phải ở gần nơi thủy tụ, nếu phía sau được đồi núi bao bọc che chắn thì cuộc đất sẽ phát thêm nhân số và tài lộc. Tùy theo thế đất và số lượng người cư ngụ mà họ chia thành ba vùng: vùng thành thị, vùng đồng bằng và vùng đồi núi.
- Vùng thành thị là vùng có đông người cư ngụ, do sự dao động biến đổi của dòng khí nhiều hơn nên sự chênh lệch giữa giàu nghèo không tránh khỏi. Vì dễ kiếm công ăn việc làm nên dân số vùng này ngày càng gia tăng. Khi mật độ dân số lên cao thì không thể tránh khỏi những tai biến bất thường từ bạo lực gây ra. Người dân làm ăn trong vùng tuy có cực nhọc chạy theo thời gian nhưng cuộc sống của họ cũng không đến nỗi bị đói khổ. Mặc dù sống cùng một vùng nhưng có người được hưng thịnh từ đời này qua đời khác về tiền tài danh vọng và cũng có người chỉ được phát đạt một thời gian nào đó rồi cuối cùng cơ nghiệp suy tàn. Thậm chí còn có người suốt đời lao lực vất vả làm việc chỉ vừa đủ ăn đủ mặc, bởi thế các nhà Phong thủy cho rằng, thịnh suy đều do trạch vận (vận khí của căn nhà) phối hợp với mệnh chủ mà sinh ra...
- Vùng đồng bằng duyên hải là nơi sông đổ ra biển, nơi mà đất đai nhận được sự hỗ trợ của 'tiềm long' được hưởng cái đức 'vượng thủy' nên con cháu thường sung túc nhiều đời. Cũng nhờ dòng sinh khí luân chuyển điều hòa nên vùng này thường thịnh vượng.
Các thành phố lớn có chiều hướng nằm cạnh ven biển, nơi có những hải cảng để tàu buôn cập bến tạo thêm sự phồn vinh cho con người nhờ việc xuất nhập cảng. Nơi này có những bờ biển với khí hậu mát mẻ làm tăng sức sống cho con người và cũng là nơi mà đất đai nhà cửa có giá trị cao hơn các vùng khác.
- Vùng đồi núi được coi là tấm khiên che chắn để bảo vệ cho con người tránh khỏi cuồng phong bão táp, dù vậy các thành phố làng mạc ở vùng cao nguyên tuy 'sơn long' ở kề cạnh, nhưng đất đai lồi lõm, hình thể chật hẹp làm cho dòng khí luân lưu bị trồi sụt nên thời vận con người nơi đây bị chi phối qua ảnh hưởng của địa thế từng cuộc đất. Nơi hợp với 'long lai thủy khứ' thì gặp thời đắc vận, còn ngược lại gặp nơi sông cạn suối kiệt, núi non trơ đá, cỏ cây xơ xác thì người cư ngụ sẽ bị... lỡ thời thất vận.
Khi xưa, các nhà địa lý thường căn cứ vào địa thế tự nhiên, họ lấy 'lai long nhập thủ' làm quy tắc lập hướng nhà. 'Lai long' là thế của dãy núi đi tới, lấy liền một dãy ở giữa không có sông ngòi phân cách. Nhập thủ là nơi cuối cùng của núi cũng là nơi mà nước của sông suối đổ về giao hội. Quan trọng nhất phải xem hướng của thủy, hướng thủy đến hay thủy đi kiêng kỵ nhất là đi thẳng đến và chảy xiết như ghềnh thác. Dòng nước phải uốn lượn quanh co hay chảy nhẹ nhàng thong thả như nước của mặt hồ thì cuộc đất mới tốt đẹp. Hồ ao, sông suối nằm phía trước cuộc đất thường là điều tốt mang lại may mắn và hạnh phúc cho người cư ngụ.
Họ còn lập tuyến chọn hướng theo nguyên tắc khí đồng nguyên, nếu tọa sơn là 'thiên nguyên long' thì hướng của thủy cũng phải là 'thiên nguyên long', tọa sơn là 'địa nguyên long' thì hướng của thủy cũng phải là 'địa nguyên long'. Nếu không cùng 'nguyên' thì sẽ bị họa 'sát thủy'. Họ còn chọn theo phương tọa, vừa có sơn vừa có thủy theo thế 'sơn mãn triều không' nghĩa là hướng tọa có đủ mà hướng chầu lại không...
Khi cất nhà họ theo nguyên tắc 'Thâm tàng bất lộ', tức là chiều dài căn nhà phải dài gấp hai hay ba lần chiều ngang mới đạt được sự 'tàng phong tụ khí', khí không bị tán. Chọn đất phía trước hẹp phía sau rộng, chủ ý giai đoạn đầu chịu đựng gian khổ, dần dần khí mới tốt thì tài vận hạnh thông. Phía trước thấp, phía sau cao với hàm ý cuộc sống và địa vị trong xã hội ngày càng lên cao để đời sau vinh hiển hơn đời trước...
Ngoài ra họ còn dùng 'Tứ linh địa' để chọn cuộc đất hay cất nhà. Cuộc đất hay căn nhà có tả Thanh long, hữu Bạch hổ, tiền Chu tước và hậu Huyền vũ đều được gọi là 'Tứ linh địa', nó đã trở thành Phong thủy kiểu mẫu trong việc chọn đất hoặc cất nhà hiện nay.
Thời gian gần đây, Phong thủy đề xướng tư tưởng con người hòa hợp với thiên nhiên, kêu gọi tìm môi trường sinh sống lý tưởng để sinh tồn và phát triển. Do đó càng ngày khoa Phong thủy càng thu hút sự chú ý của nhiều học giả Tây phương. Nhờ vậy về sau này các kiến trúc sư Tây phương đã tránh vẽ các kiểu nhà gây bất lợi về mặt phong thủy.
Thể theo yêu cầu của một số độc giả, Vô Chiêu viết về cách chọn đất, nhà theo thực tế để quý vị nghiên cứu thêm.
Chọn đất
Nói đến chọn đất đai, người ta chú trọng về hình, diện và thế. Sự kết hợp của ba điểm này sẽ hổ tương gây ảnh hưởng tốt hoặc xấu cho ngôi nhà nằm trên đó.
Địa hình
- Địa hình là hình dạng của cuộc đất. Hình chữ nhật, hình vuông thì tốt. Tránh hình tam giác, hình thoi, hình thang... kiêng kỵ nhất là cuộc đất bị khuyết hãm.
Địa diện
Địa diện là bề mặt của cuộc đất, từ ngữ này dùng để chỉ tất cả những gì cố định mà người ta thấy được trên miếng đất. Điều kiêng kỵ là trước hay sau sân nhà có nhiều phế liệu xây cất, rác rưới, gạch cũ chất thành đống, cây chết khô nghiêng ngã, hàng rào xiêu vẹo, đất vun cao thành đống... về mặt này có thể giải quyết vì chi phí dọn dẹp không cao.
Địa thế
Địa thế là thế cao thấp của cuộc đất, nó còn có nghĩa là vị trí của cuộc đất đối với sông hồ hay đường xá hoặc nhà cửa chung quanh.
Cần nhất là thế đất phía sau cao hơn phía trước căn nhà, hậu vận tốt. Bằng ngược lại, tùy theo độ dốc mà người cư ngụ bị bất lợi về tiền bạc... Từ trong cửa nhà nhìn ra thế đất bên trái phải cao hơn bên phải, nếu phía sau có nhà cao hơn thì đó là điều tốt đẹp.
Chọn nhà
Hình thể
Trạch là nhà ở; hình là hình thể, hình dạng. Trạch hình là hình thể mái nhà (từ trên không nhìn xuống), hình dạng căn nhà phía trước nhìn vào (mặt tiền).
- Ngày nay nhiều căn nhà được xây theo kiểu mới lạ, mái nhà thường bị khuyết góc hoặc khuyết cạnh nhiều hơn các kiểu nhà thời xưa. Nếu mái nhà có diện tích nơi khuyết lớn hơn 1/10 diện tích mái nhà sẽ gây ra họa hại cho người cư ngụ. Nặng nhẹ tùy theo độ khuyết.
- Nhìn căn nhà từ phía trước để luận hình dạng theo ngũ hành hợp với mệnh chủ (ít quan trọng).
- Tránh phạm một trong 32 thế sát.
- Phải có sân vườn sau trước, nếu có sẵn landscape càng tốt vì nó giúp cho khí thông thương luân chuyển.
- Nếu nhà nằm ngay ngã tư của con đường nên chọn căn nhà có đường lộ bên phải thì tốt vì Bạch hổ động, ngược lại bên trái có đường lộ làm Thanh long động, gây bất lợi cho gia chủ (tính từ cửa cái nhìn ra).
- Garage hay driveway ở phía trước bên phải căn nhà thì tốt, bên trái xấu.
- Không nên mua nhà mà trong sân có cây cổ thụ tàng lá lớn, bị ồn ào vì quạ kêu suốt ngày, rễ cây làm hư nền nhà, máng xối và đường rút nước bị nghẹt vì lá rụng, phí thời giờ gom hốt lá rụng trong sân vườn.
- Tránh mua nhà có hồ tắm phía sau. Nước phía sau căn nhà không những chỉ làm cho gia chủ bị hao tổn về tài lộc mà còn gây hại cho sức khỏe của người chủ hay làm trì trệ việc học hành của con cái, tùy theo vị trí hồ nằm ở nơi nào trong 8 cung.
- Kiêng kỵ mua nhà gạch bị nứt nẻ, tượng suy tàn. Nó làm tốn hao ngân quỹ nếu muốn sửa chữa lại cho hoàn mỹ.
Vận khí
Người xưa xem việc mua nhà ở giống như mang giày của người chủ trước, nếu chủ trước gặp thời phát đạt mua nhà lớn hơn nên dọn đi nơi khác thì tốt, còn nếu như họ bị thua lỗ phải bán nhà để trả nợ thì người mua nên xét lại... Vì thế các nhà Phong thủy khuyên nên chịu tốn thời gian tìm hiểu xem tại sao chủ trước lại bán nhà? Do phát đạt hay vì thua lỗ hoặc ly dị?
Kiêng kỵ:
- Cất nhà trên đất nghĩa địa hoặc đất tư nhân đã từng chôn người khi trước.
- Xây nhà trên đất đã từng là nơi hành quyết tử tội, đất cũ của nhà chứa xác, nhà quàn, bệnh viện.
- Mua căn nhà đã xảy ra án mạng, hay có người bị 'bất đắc kỳ tử' hoặc chết vì bệnh nan y tại nhà.
- Mua căn nhà mà chủ trước bị ly dị hay sống cô độc.
- Mua căn nhà mà chủ trước bị phá sản, con cái bị tứ tán phân ly.
Theo Phong thủy thì vận xấu của người chủ trước vẫn còn gây ảnh hưởng đến người mua sau. Ngoại trừ phá hủy căn nhà cũ, để đất trống trên 6 tháng mới tẩy được bại khí và sau đó mới xây nhà.
Lời kết
Cuộc đời của mỗi con người thường thay đổi. Có khi thịnh vượng cũng có lúc suy vong, có những điều bất lợi xảy ra ngoài ý muốn và cũng có những điều bất ngờ đưa đến đem lại nhiều niềm vui, tất cả xảy ra đều ngoài dự tính!
Có nhiều người siêng năng, tạo dựng sự nghiệp lẫy lừng nhưng cuối cuộc đời chỉ còn lại hai bàn tay trắng. Một số người cố gắng tạo dựng một mái ấm gia đình, nhưng cũng chỉ nhận được nhiều đắng cay chua xót... Nếu ai gặp phải cảnh ngộ này, tốt nhất nên tự nhìn lại quan niệm sống của bản thân khi trước. Có sống đúng theo đạo làm người, có tròn chữ hiếu không? Có vấp phải lầm lỗi trong đời sống như áp bức, gây hại cho người? Có chia xẻ hoàn cảnh hay giúp đỡ những người bất hạnh bị đau khổ vì thiên tai, chiến tranh? Có 'tận nhân lực' chưa? Nếu nhìn thấy được những sai sót của mình thì nên sửa đổi tâm tánh với niềm tin: Từ nay cuộc đời của mình sẽ đổi mới, sẽ gặp nhiều may mắn tốt đẹp hơn. Hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân!
Phong Thuỷ: Vô Chiêu : Gả cưới
Dựng vợ gả chồng khi trai gái lớn lên là việc làm đúng với đạo lý. Nhiều cặp vợ chồng sống hạnh phúc đến khi ‘răng long tóc bạc’, bên cạnh đó cũng có những người lâm cảnh biệt ly hoặc chia ly đôi ngã.
Cổ nhân nói: ‘Vô oan trái bất thành phu phụ’. Nghĩa là: ‘Kiếp trước không tạo oan trái cho nhau thì kiếp này không trở nên chồng vợ’. Ý nói là do đã tạo oan khiên từ kiếp trước mới phải nên vợ nên chồng để trả nợ còn thiếu lẫn nhau.
Nhân duyên có hòa hợp mới sanh ra vạn vật. Nhân là nguyên do chính, duyên là phần hỗ trợ, nhân ví như hột giống, còn duyên là đất là phân giúp cho hột nẩy mầm tăng trưởng đến khi đơm hoa kết trái.
Duyên nợ cũng vậy, nó giúp cho nam nữ gặp nhau, kết nối thành chồng vợ sống cạnh bên nhau. Sống trong hạnh phúc người ta cho là nhờ ‘duyên’, nhưng nếu gia đình xào xáo ‘cơm không lành, canh không ngọt’ thì người ta lại nói là bị ‘nợ’.
Vợ chồng sống ‘đồng sàng dị mộng’ thì dù cho có giàu sang phú quý lại thiếu tình thương, thiếu hiểu biết trong cư xử, sống không hạnh phúc bị gọi là ‘nợ’. Tuy nghèo nhưng thương yêu lẫn nhau là đã có hạnh phúc lại được gọi là ‘duyên’, ca dao có câu:
Râu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.
Duyên hay nợ cũng đều do tâm của mỗi con người. Nếu lấy cái tâm không thành đối với người thì sớm muộn gì ta cũng mất người đó. Đối với người đời còn vậy, huống hồ chi đối với ‘bạn đời’ của mình? Xin suy nghiệm.
Chọn ngày
Ngày nay ở hải ngoại, nam nữ thương yêu nhau dẫn đến hôn nhân ít ai chọn ngày lành tháng tốt để làm đám hỏi, đám cưới như xưa, miễn sao ngày cưới đúng vào ngày thứ Bảy hay Chủ nhật là tốt. Tuy nhiên theo lời yêu cầu của một số độc giả, Vô Chiêu viết ngắn gọn về cách chọn ngày mà không bàn về tuổi hợp của nam nữ.
Trước khi chọn ngày gả cưới, người xem phải có lịch Vạn niên. Trong lịch này có ghi ngày tháng theo dương lịch và âm lịch. Hoặc giả có lịch của các chùa, ngày tháng đúng theo lịch Vạn niên, như lịch của chùa Phước Huệ tại NSW.
Các nhà Thuật số khuyên:
- Tuyệt đối tránh cưới gả trong năm bị Tam tai. Nếu gả cưới trong những năm bị hạn Tam tai, một trong hai sẽ bị họa tai bất ngờ, làm cho cả vợ lẫn chồng gặp nhiều trắc trở về lãnh vực tình cảm và tài chánh.
- Nên tránh ngày Thiên tảo, Địa tảo (xem lại bài Thiên tảo Địa tảo).
- Nên tránh những ngày Sát chủ, Tam nương, Nguyệt kỵ (xem lại bài Ngũ kỵ)
Nên chọn:
- Ngày Bất tương (xem lại bài Bất tương).
- Ngày có nhiều cát tinh như: Thiên Hỹ, Thiên Đức + Nguyệt Đức, Tam Hiệp, Ngũ hiệp, Lục hiệp.
- Ngày trực Bình, trực Định, trực Thành, trực Thâu.
Kiêng kỵ:
- Ngày có hung tinh như: Trùng phục, Thiên hình, Thiên tặc, Địa tặc, Nguyệt phá, Nguyệt sát, Nguyệt hỏa, Nguyệt yểm, Vãng vong, Sát thê.
- Ngày kỵ tuổi (xem lại bài Thiên khắc, Địa xung).
- Ngày trực Kiến, trực Phá, trực Nguy.
* Không nên chọn những người đang bị dang dở hoặc vợ chồng chấp nối đi trong đoàn người rước dâu hay đưa dâu.
* * *
Vô Chiêu
Phong Thuỷ: Vô Chiêu Trả lời thư độc giả
T. T. Nguyễn (SunnyBank Hill, Qld 4109).
Vô Chiêu Trả lời thư độc giả T. T. Nguyễn (SunnyBank Hill, Qld 4109).
Hỏi: Tôi mua nhà được gần hai năm, từ khi mua đến giờ tôi bị xui xẻo liên tiếp như bị cao máu, không được lên lương như các đồng nghiệp, thường xuyên nóng nảy la rầy vợ con... Sau này đọc trang phong thủy mới biết phối theo mệnh thì cửa nhà tôi hướng ngũ quỷ. Xin chỉ giúp tôi cách hóa giải? Cám ơn thầy.
Trả lời: Có người mua nhà hay cất nhà vào năm nhất kiết, nhị nghi, tứ tấn tài (bàn tay Hoang Ốc) may mắn hợp hướng tốt nên thường được hạnh thông. Bên cạnh đó có người mua hoặc cất nhà vào những năm bị tam tai hoặc bị vào cung tam địa sát, ngũ thọ tử, lục hoang ốc nên bị trật hướng là chuyện thường. Muốn hóa giải cửa nhà hướng ngũ quỷ, tuyệt mạng hay lục sát các nhà phong thủy dùng biện pháp an táo để chế phục hay hóa giải theo ba câu thiệu sau đây:
Sinh khí giáng ngũ quỷ.
Thiên y chế tuyệt thể.
Duyên niên yểm lục sát.
Nghĩa:
Câu 1: Nhà bị bát san ngũ quỷ, đặt bếp nơi hung phương. Theo mệnh cung của gia chủ đặt bếp hướng sinh khí thì hóa giải ngũ quỷ, cửa ngũ quỷ không còn gây hại cho gia chủ được nữa.
Thí dụ: Chủ nhà mệnh Đoài, cửa nhà hướng Ly bị phạm ngũ quỷ. Phá thế bằng cách đặt bếp vào phương Tốn (Đông Nam), miệng bếp lò hướng về Càn (Tây Bắc) là sinh khí của mệnh Đoài.
Câu 2: Hướng nhà bị tuyệt thể, đặt bếp nơi hung phương. Theo mệnh cung của người chủ lấy hướng thiên y cho miệng bếp thì hóa giải được tuyệt thể.
Thí dụ: Người có mệnh Cấn, cửa nhà hướng Tốn phạm tuyệt thể. Hóa giải bằng cách đặt bếp tại phương Tốn, miệng bếp quay về hướng Càn thì sẽ được an lành.
Câu 3: Hướng nhà bị lục sát, đặt bếp nơi hung phương. Theo mệnh cung của người chủ lấy hướng duyên niên cho miệng bếp thì hóa giải được lục sát.
Thí dụ: Chủ nhà mệnh Càn, cửa nhà hướng Khảm phạm lục sát. Giải trừ bằng cách đặt bếp tại phương Khảm, miệng bếp hướng về Khôn (Tây Nam).
Xin lưu ý, khi dời bếp hay thay bếp mới, quan trọng nhất là giờ an táo tức đốt lửa khai bếp. Nên chọn ngày trực Thành hay trực Mãn thì tốt (xem lại bài An, khai Táo và Thập nhị trực). Chúc ông may mắn.
Vô Chiêu

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét