Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch và Thời gian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch và Thời gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2008

Hệ số can chi và lục thập hoa giáp

Hệ số can chi và lục thập hoa giáp

Hệ số can chi:

Hệ số quan trọng nhất trong lịch pháp phương Đông là hệ số 10 (thập can), hệ số 12 thập nhị chi, hệ số 60 tức lục thập hoa giáp, 6 chu kỳ hàng chi kết hợp với 10 chu kỳ hàng can 6x10=60 (lục giáp).

Thập can( tức là 10 thiên can): theo thứ tự:

1 - Giáp

2 - Ất

3 - Bính

4 - Đinh

5 - Mậu

6 - Kỷ

7 - Canh

8 - Tân

9 - Nhâm

10 - Quý

Thập nhị chi (12 địa chi): theo thứ tự:

1 - Tý

2 - Sửu

3 - Dần

4 - Mão

5 - Thìn

6 - Tỵ

7 - Ngọ

8 - Mùi

9 - Thân

10 - Dậu

11 - Tuất

12 - Hợi

Can chi nào là số lẻ là dương, can chi nào là số chẵn là âm. Dương can chỉ kết hợp với dương chi, âm can chỉ kết hợp với âm chi.

Sự kết hợp hàng can với ngũ hành và tứ phương

Giáp

: Dương mộc

Phương Đông

Ất

: Âm mộc

Phương Đông

Bính

: Dương hoả

Phương Nam

Đinh

: Âm Hoả

Phương Nam

Mậu

: Dương Thổ

Trung ương

Kỷ

: Âm thổ

Trung ương

Canh

: Dương Kim

Phương Tây

Tân

: Âm Kim

Phương Tây

Nhâm

: Dương Thuỷ

Phương Bắc

Quý

: Âm Thuỷ

Phương Bắc

Sự kết hợp hàng chi với ngũ hành và tứ phương:

Hợi

: Âm Thuỷ

Phương Bắc

: Dương Thuỷ

Phương Bắc

Dần

: Dương mộc

Phương Đông

Mão

: Âm mộc

Phương Đông

Ngọ

: Dương hoả

Phương Nam

Tỵ

: Âm Hoả

Phương Nam

Thân

: Dương Kim

Phương Tây

Dậu

: Âm Kim

Phương Tây

Sửu

: Âm thổ

Phân bố đều bốn phương

Thìn

: Dương Thổ

Phân bố đều bốn phương

Mùi

: Âm thổ

Phân bố đều bốn phương

Tuất

: Dương Thổ

Phân bố đều bốn phương

Can chi tương hình, tương xung, tương hại, tương hoá, tương hợp;

Tương hình(xấu) (chỉ tính hàng chi):

Trong 12 chi có 8 chi nằm trong 3 loại chống đối nhau:

1.Tý và Mão Chống nhau

2. Dần, Tỵ và Thân Chống nhau

3. Sửu, Mùi và Tuất Chống nhau

Và hai loại tự hình: Thìn chống thìn, Ngọ chống Ngọ (chỉ có Dậu và Hợi là không chống ai)

Tương xung (xấu) hàng can có 4 cặp tương xung (gọi là tứ xung).

Giáp (Phương Đông) xung với Canh (Phương Tây) đều Dương

Ất (Phương Đông) xung với Tân (Phương Tây) đều Âm.

Bính (Phương Nam) xung với Nhâm(Phương Bắc) đều Dương.

Đinh (Phương Nam) xung với Quý (Phương Bắc) đều Âm.

Hàng chi có 6 cặp tương xung (gọi là lục xung):

1 - Tý xung

7 - Ngọ (đều Dương và Thuỷ Hoả xung khắc)

2 - Sửu xung

8 - Mùi (đều Âm)

3 - Dần xung

9 - Thân (đều Dương và Kim Mộc xung khắc)

4 - Mão xung

10 - Dậu (đều Âm và Kim mộc xung khắc)

5 - Thìn xung

11 -Tuất (đều Dương)

6 - Tỵ xung

12 - Hợi (đều Âm và Thuỷ Hoả xung khắc)

  • Phương Đông Tây Nam Bắc đối nhau.
  • Khí tiết nóng lạnh khác nhau.

o Tương hại (xấu) có 6 cặp hàng chi hại nhau:

1. Tý - Mùi
2. Sửu – Ngọ
3. Dần - Tỵ

4. Mão - Thìn
5. Thân - Hợi
6. Dậu - Tuất

o Tương hoá (tốt) theo hàng can có 5 cặp tương hoá (đối xứng nhau).

1. Giáp-Kỷ hoá Thổ (âm dương điều hoà).

2. Ất-Canh hoá Kim (âm dương điều hoà).

3. Bính-Tân hoá Thuỷ (âm dương điều hoà).

4. Đinh-Nhâm hoá Mộc (âm dương điều hoà).

5. Mậu-Quý hoá Hoả (âm dương điều hoà).

Tuy phương đối nhau nhưng một âm một dương, âm dương điều hoà trở thành tương hoá, hoá để hợp.

o Tương hoá (tốt): Trong 12 chi có hai loại: lục hợp và tam hợp.

Lục hợp:

Tý và Sửu hợp Thổ.

Dần và Hợi hợp Mộc.

Mão và Tuất hợp Hoả.

Thìn và Dậu hợp Kim.

Thân và Tỵ hợp Thuỷ.

Ngọ và Mùi : thái dương hợp thái âm.

Thuyết “ Tam mệnh thông hội” giải thích rằng: hễ hoà hợp, âm dương tương hoà, thì khí âm khí dương hợp nhau. Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất là 6 dương chi gặp Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi 6 âm chi. Một âm một dương hoà hợp với nhau.

Tam hợp có 4 nhóm : cách 3

1. Thân Tý, Thìn hợp Thuỷ.

2. Hợi, mão, Mùi hợp mộc.

3. Dần, Ngọ, Tuất hợp Hoả.

4. Tỵ, Dậu, Sửu hợp Kim.

Thuyết âm dương ngũ hành

Thuyết âm dương ngũ hành


Âm dương:


Âm dương không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà thuộc tính của mọi hiên tượng mọi sự vật, trong toàn thể vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết.


Âm dương là hai mặt đối lập: Mâu thuẫn - Thống nhất, chuyển hoá lẫn nhau, dựa vào nhau mà tồn tại, cùng triệt tiêu thay thế nhau. Trong dương có mầm mống của âm, ngược lại trong âm có mầm mống của dương. Trong tất cả các yếu tố không gian, thời gian, vật chất ý thức đều có âm dương. Âm dương không những thể hiện trong thế giới hữu hình kể cả vi mô và vĩ mô mà còn thể hiện cả trong thế giới vô hình, hay gọi là thế giới tâm linh như tư duy, cảm giác, tâm hồn …từ hiện tượng đến bản thể..


Ngũ hành:


Có 5 hành:
Hoả (lửa), Thổ (Đất), Kim (Kim loại), Thuỷ (nước, chất lỏng). Mộc (cây cỏ). Theo quan niệm cổ xưa thì mọi vật chất trong vũ trụ đầu tiên do 5 hành đó tạo nên.


Ngũ hành có quy luật sinh, khắc chế hoá lẫn nhau. Để bạn đọc dễ hiểu, dễ nhớ chúng tôi xin trình bày luật tương sinh, tương khắc dưới dạng mấy câu ca dao sau:


Ngũ hành sinh:

Ngũ hành sinh thuộc lẽ thiên nhiên:

Nhờ nước cây xanh mới mọc lên (Thuỷ sinh mộc- màu xanh)

Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (Mộc sinh hoả- màu đỏ)

Tro tàn tích lại đất vàng thêm (Hoả sinh thổ: Màu vàng)

Lòng đất tạo nên kim loại trắng ( Thổ sinh kim: màu trắng)

Kim loại vào lò chảy nước đen (Kim sinh thuỷ- màu đen)


Ngũ hành khắc:


Ngũ hành tương khắc (lẽ xưa nay)

Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày ( Mộc khắc thổ: Tụ thắng tán)

Đất đắp đê cao ngăn lũ nước (Thổ khắc Thuỷ: Thực thắng hư)

Nước dội nhanh nhiều tắt lửa ngay (Thuỷ khắc hoả: chúng thắng quả, nhiều thắng ít)

Lửa lò nung chảy đồng, chì, thép (Hoả khắc kim: Tinh thắng kiên)

Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây ( Kim khắc mộc: cương thắng nhu).


Ngũ hành chế hoá:


Chế hoá là ức chế và sinh hoá phối hợp nhau. Chế hoá gắn liền cả tương sinh và tương khắc. Luật tạo hoá là: mọi vật có sinh phải có khắc, có khắc sinh, mới vận hành liên tục, tương phản tương thành với nhau.


Mộc khắc Thổ thì con của Thổ là Kim lại khắc Mộc

Hoả khắc Kim thì con của Kim là Thuỷ lại khắc Hoả

Thổ khắc Thuỷ thì con của Thuỷ là Mộc lại khắc Thổ

Kim khắc Mộc thì con của mộc là Hoả lại khắc Kim

Thuỷ khắc Hoả thì con của Hoả là Thổ lại khắc Thuỷ


Nếu có hiên tượng sinh khắc thái quá không đủ, mất sự cân bằng, thì sẽ xảy ra biến hoá khác thường. luật chế hoá duy trì sự cân bằng: bản thân cái bị khắc cũng chứa đựng nhân tố (tức là con nó) để chống lại cái khắc nó.

Tính chất các sao và thuyết “thiên nhân tương ứng”

Tính chất các sao và thuyết “thiên nhân tương ứng”


Ngày giờ nào tốt hay xấu? Tốt xấu đối với việc gì? Tuỳ thuộc vào tính chất của các ngôi sao ngự trị trái đất trong ngày giờ đó, những sao có sẵn trong thiên văn học cổ đại, nhưng cũng có nhiều ngôi sao ước lệ, tuỳ theo tính chất và quy luật vận hành mà đặt tên.


Trong thuật chiêm tinh có tên chung gọi là “Thần sát” (Sát đồng nghĩa với tinh=Sao). Theo chu kỳ vận hành, Thần sát có 3 loại:

  • Niên Thần Sát (Theo chu kỳ năm: năm nào chiếu vào ngày nào).
  • Nguyệt thần sát ( Tháng nào chiếu vào ngày nào trong tháng).
  • Nhật thần sát (Ngày nào cũng có nhưng mỗi ngày chiếu vào một giờ).

Người xưa hình dung mỗi ngôi sao trên một bầu trời do một vị thần cai quản dưới sự điều khiển chung của ông trời.


Về tính chất mỗi sao một khác đối với từng việc và có mức độ khác nhau, đại thể chia ra làm 2 loại: Cát tinh (sao tốt) và hung tinh (sao xấu). Trong thiên văn học cổ đại không có sao tốt, sao xấu, vậy căn cứ vào đâu thuật chiêm tinh quy định sao tốt hay sao xấu?


Cơ sở triết học là kinh dịch, là thuyết “Thiên nhân tương ứng” (mối quan hệ giữa Trời và Đất và con người, giữa con người và vạn vật trong vũ trụ ), là luật âm dương ngũ hành xung hợp, sinh khắc, chế hoá lẫn nhau, thêm vào đó là tín niệm tôn giáo: Mọi hoạ phúc trên đời đều do một lực siêu nhiên có uy quyền sắp xếp.Nhưng thuật chiêm tinh không hoàn toàn lệ thuộc vào số phận mà luôn phát huy chủ thể của con người. Mọi việc của mình, vì mình phải luôn do mình chủ động gánh vác, chịu trách nhiệm, tìm đến việc chọn ngày giờ để nắm đúng thời cơ, hợp ý trời, thuận lòng người ( Theo thuyết “Thiên nhân tương ứng”).

Thuật chiêm tinh dưới ánh sáng khoa học hiện đại

Thuật chiêm tinh dưới ánh sáng khoa học hiện đại


Con người là một tiểu vũ trụ:


Đã một thời những triết lý của phương Đông cổ xưa về vũ trụ và con người bị “người đời” xem như “vô nghĩa” “nhảm nhí và quái dị”. Các nhà khoa học, các nhà tư tưởng Phương Tây thì phủ bác, bài xích coi như “những nghịch lý hoang tưởng”.


Nhưng nay, không ít những nhà khoa học cỡ lớn đã bắt đầu tìm đến, đánh giá một cách nghiêm túc những triết lý đó... Khoa học phương Tây đã sững sờ gặp lại hình bóng tương đồng với mô hình triết học phương Đông cách đây hàng nghìn năm.


Triết học phương Đông xưa, từng quan niệm “ Con người là một Tiểu vũ trụ”. Quan niệm đó càng tỏ ra xác đáng trước những khám phá của khoa học thời đại.


Trong vũ trụ mặt trời cùng các môi trường bao quanh nó liên tục truyền cái trật tự của mình với tất cả những gì trên trái đất. Mặt trăng, một vật thể gần trái đất nhất, cũng gây ảnh hưởng tới trái đất. Mọi sinh vật và cả những vật vô tri vô giác đều “hưởng ứng” với nó và thay đổi cùng với nó. Các con sông thay đổi dòng chảy theo ánh sáng mặt trăng, các đại dương thay đổi sóng triều theo sự mọc và lặn của mặt trăng. Các đợt “triều lên” không chỉ bao gồm nước của biển cả và đại dương mà còn cả lớp không khí của trái đất, cả lớp vỏ vứng (mặt đất) cũng có hiện tượng “triều lên-xuống”, hiện tượng “triều lên-xuống”cũng diến ra ngay trong cơ thể con người và tất cả sinh vật nói chung.


Các nhà vật lý, y sinh học và nhiều ngành khoa học đã phát hiện ngày một nhiều những Nhịp Điệu có chu kỳ khác nhau diến ra trong cơ thể con người: chu kỳ ngắn nhất có thể từ vài phần giây đến vài giây, như tần số dòng điện sinh học: nhịp tim, nhịp thở, nhu động ruột, sóng điện não (chừng xấp xỉ một giây). Những nhịp điệu này có thể thay đổi theo thời gian trong ngày, theo thời tiết và môi trường. Có chu kỳ kéo dài từ vài chục phút tới vài giờ, như chức năng của thận của máu, của hoạt động trí óc...


Nhịp điệu cỡ ngày đêm (24 giờ) rất phổ biến ở hầu hết mọi sinh vật và nhiều chức năng của cơ thể con người. Khoa học đương thời đã phát hiện có hơn 40 quá trình sinh học có nhịp điệu 24 giờ (nhịp điệu ngày đêm) như nhịp thân nhiệt, nhịp điệu của tim, nhịp điệu trí tuệ, sự biến đổi thành phần máu... điển hình là nhịp điệu thân nhiệt...


Có những nhịp điệu dài hơn 24 giờ, như nhịp điệu tháng, năm... được chi phối bởi ảnh hưởng của mặt trời và mặt trăng. mặt trời quay một vòng xung quanh trục của nó trung bình là 27,3 ngày. Còn mặt trăng quay xung quanh trái đất là 29,5 ngày. Điều đó cho ta liên hệ tới chu kỳ hoạt động sinh vật trên trái đất, điển hình là chu kỳ rụng trứng: chu kỳ kinh nghyệt của phụ nữ, nhịp điệu sinh lý, thụ thai ở con người, và chu kỳ động hớn của động vật...đều có liên quan tới chu kỳ chuyển động của mặt trăng nhiều hơn. Chính vì thế, thời xưa cho rằng mặt trăng là thần của ái tình, thần của dục khí, thần của tâm hồn.. như vậy hiện tượng này đã được phát hiện từ rất xưa.


Khoa học cũng ghi lại được những chu kỳ lớn như: chu kỳ 11 năm ( theo ý kiến của một số nhà khoa học cho rằng có liên quan tới nhịp điệu chưa biết nào đó trong vũ trụ), chu kỳ 18,6 năm, chu kỳ 176,77 năm.


Mỗi lần xuật hiện những chu kỳ này (27 ngày, 11 năm, 176,77 năm) với mức độ khác nhau, bề mặt trái đất phải chịu những dòng bức xạ vô cùng lớn, khiến khí quyển bị nhiễu loạn, lực từ trường bị thay đổi, bão từ và bão khí quyển, lưu lượng nước các sông, mức nước các hồ, cả những dòng nước ngầm cũng bị thay đổi.


Nhiều công trình khoa học gần đây phát hiện mối tương quan giữa tuần trăng và thời tiết khí hậu, càng làm rõ thêm ý nghĩa ngoại sinh của các nhịp điệu tháng trong sinh hoạt và đời sống. Nếu mặt trăng có vai trò quan trọng trong nhịp điệu tháng thì ảnh hưởng của khí hậu càng dễ nhận thấy hơn trong những nhịp điệu hàng năm và nhiều năm mà mặt trời là tác nhân quan trọng hàng đầu.


Như vậy, nhịp điệu sinh học trên trái đất nói chung, nhịp điệu sinh học con người nói riêng có nguồn gốc từ nhịp điệu vũ trụ nhưng ảnh hưởng của mặt trăng mặt trời là yếu tố chủ yếu, trực tiếp... Do vậy, sinh lý con người có quan hệ mật thiết với khí hậu, thời tiết thiên nhiên. khí hậu, thời tiết biến động thường phát sinh bệnh tật, thậm chí có ý nghĩa cả về thân thể, vóc dáng tạng người, tính cách...


Cổ thư có ghi: thuỷ thổ khí hậu cũng là nhân tố cấu trúc hình thể con người: nơi khí nặng thì thể người chắc mập, nơi khí nhẹ thì thể người mảnh gầy... Trong cơ thể con người giữa các kinh chính có các thực thể nối lại với nhau, gọi là Lạc. Người ta thấy rằng Số Lạc và số Khớp đúng bằng số ngày trong một năm(365 ngày).


Vậy là ta có thể suy tưởng lại triết lý “ con người là một tiểu vũ trụ” hay vũ trụ thu gọn trong một con người; hay “đó là hình ảnh thu nhỏ của không gian, của trời và đất” ấy là những hoạt động không ngừng của một hệ thống những đồng hồ sinh học theo thời khắc cực kỳ chính xác đó là thời gian. Vậy ta thấy trở lại cái khái niệm về Vũ trụ và sự tinh hoa của triết lý “ vạn vận đồng nhất thể, vũ trụ là một”...


Môi trường và đạo sinh

Vũ trụ biến đổi theo nhịp có ảnh hưởng đến các chu trình sinh học, tâm lý và tinh thần trong cơ thể con người...”


Hành tinh này, cùng toàn bộ sự sống của chúng ta được gói bọc trong môi trường thật vô cùng phong phú, nhưng lại rất cá biệt, chỉ có một không hai trong vũ trụ mặt trời. Còn về sự phong phú thì tất cả những gì con người có thể cảm nhận được bằng mọi giác quan cũng chỉ là những phần vô cùng ít ỏi đang tồn tại trong môi trường mà thôi. Còn biết bao những tồn tại vô hình khác mà con người đã biết đến như không khí, các bức xạ điện tử, các iôn... các lực tương tác vũ trụ... mà chính những tồn tại vô hình này lại là những cầu nối giữa trái đất với con người và vũ trụ. Mọi biến đổi từ vũ trụ mà trực tiếp là mặt trời, mặt trăng đếu tức khắc được truyền dẫn và tác động đến mỗi sinh vật trên trái đất, mọi trạng thái sự sống cùng mọi “nhịp điệu sự sống” đều được quyết định chủ yếu ở đây. Sự sống được thịnh hay suy của mỗi sinh vật , của mỗi con người còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi hay không thích nghi ới những biến đổi ấy.


Môi trường đó, ngoài những thế giới vô cơ, còn có những thế giới sinh vật vi mô mà mắt thường cùng mọi giác quan khác ta không thể nhìn thấy, không thể cảm nhận được...


Mối liên hệ giữa cơ thể với môi trường cũng còn biết bao những tồn tại khác tác động vào cơ thể và sự sống như áp lực, trường lực trường từ... và các dạng của các hình thái năng lượng khác nhau như nhiệt, hoá học, cơ học.


Tất cả những yếu tố đa diện đa dạng đó tác động sâu sắc thường xuyên tới mọi sinh thể và con người, thậm chí đến từng con người qua những kênh khác nhau, tác động trực tiếp tới tế bào não, thần kinh, các chức năng tuần hoàn hô hấp... quyết định tới thể chất , trạng thái thậm chí cả tính cách và hành vi của con người mọi sự biến động điện từ hay thời tiết đều tác động tức khắc đến sự sống con người. Con người có mệt mỏi, ưu phiền hoặc bị kích phấn , tinh thần bất định bởi những tác động này. Sự tác động nhiều hay ít còn phụ thuộc vào khả năng thích nghi của mỗi cơ thể…


Ngành sinh học cũng đã khẳng định, các nhịp sinh học diễn ra trong cơ thể con người vạn vật trên hành tinh này, chủ yếu thuộc về những yếu tố ngoại sinh-môi trường mà xuyên suốt là những nhịp điệu từ vũ trụ gửi tới, nói cách khác con người và mọi tồn tại trên hành tinh này đều là sản phẩm cuả vũ trụ, được vũ trụ dưỡng sinh và thuần hoá, sự thuần hoá này diến ra liên tục, lâu dài từ thủa khai thiên lập địa để con người thực sự là sản phẩm đặc biệt của vũ trụ.


Mặt trăng ảnh hưởng đến tâm sinh lý con người


Người xưa cho rằng mặt trăng hình như cũng là vật thể có sự sống. Họ thấy trong một tháng, trăng có khi to khi nhỏ khi khuyết khi tròn có khi lại mất hẳn. Họ cho rằng trăng tròn, trăng khuyết có thể ảnh hưởng đến cuộc sống con người, gieo hạt giống phải gieo lúc trăng tròn, giống mới chóng mọc chóng nảy mầm mau tốt. Điều mê tín đó đã bị bác bỏ từ lâu. Ngờ đâu chuyện cũ thời xa xưa đến nay được lặp lại. Trường đại học J.ni.nô ở Mỹ đã công bố kết quả nghiên cứu rất lý thú: trăng tròn hay khuyết có quan hệ rất lớn tới việc trồng rau. lúc trăng tròn thì khoai tây có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn hàm lượng gluxit cao hơn. Họ cho rằng có lẽ do sự biến đổi từ trường.


Hiệp hội y học Mỹ cũng có báo cáo : trăng tròn hay khuyết cũng có thể làm cho con người mắc bệnh. Trong thời kỳ trăng tròn và gần tròn (tức khoảng 10-20âm lịch) có 64% trong 88 bệnh nhân bị đau tim. trước thời điểm mặt trăng, mặt trời và trái đát nằm trên một trục đường thẳng có 38 bệnh nhân bị xuất huyết đường ruột.

Phải chăng thuật chiêm tinh chỉ là trò bịp bợm?

Phải chăng thuật chiêm tinh chỉ là trò bịp bợm?


Thuyết âm dương ngũ hành và khoa thiên văn học cổ đại đã chứng minh có nhiều điểm phù hợp với kiến thức khoa học hiện đại, đến nay vẫn được ứng dụng chính xác trong thực tế cuộc sống như trong đông y, trong lịch pháp, trong thời vụ nông nghiệp...


Nhưng các sao trong thiên văn học cổ đại không định danh là hung tinh hay cát tinh,các ngày can chi trong lịch pháp không định danh là ngày tốt, xấu, các ngôi sao trên các cung Hoàng đạo không định danh hung thần hay cát thần như ở thuật chiêm tinh. Vậy nên trong thuật chiêm tinh cái cốt lõi của duy vật cổ đại bị bao phủ bởi cái màn duy tâm hay ngược lại cái côt lõi của duy tâm được bao bọc bằng vỏ duy vật? Cố nhiên thuật chiêm tinh vẫn tồn tại chưa hề bị mai một? Chẳng những quần chúng dễ bị mê hoặc mà cả những nhà tri thức uyên bác của nhiều đời sau vẫn cứ tuân theo? Quan Thái Bốc, Tào Khâm Thiên giám các triều đại phong kiến dám đâu viết vu vơ, nếu sai dễ bị lột mũ áo, hoặc chém đứt đầu chứ chẳng chơi.


Những mẩu chuyện lịch sử (kể cả chính sử và dã sử) đặt ra để chúng ta cùng nghiên cứu, kể có nhiều điều thú vị.

Phải chăng đã có một nền khoa học bị thất truyền?

Phải chăng đã có một nền khoa học bị thất truyền?


Vạn kiếp tông bí truyền thư của Trần Quốc Tuấn.


Quốc Tuấn chọn binh pháp các nhà, soạn thành một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”


Quốc Tuấn lại sưu tập binh pháp các nhà, làm thành “Bát quái cửu cung đồ”, đặt tên là “Vạn kiếp tông bí truyền thư”. Nhân Huệ Vương viết bài tựa cho sách ấy như sau: “Người giỏi cầm quyền thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết...


Gia Cát xếp đá sông làm bát trận đồ, Vệ Công sửa lại thành Lục Hoa trận. Hoàn Ôn lập ra xà thế trận, có vẽ các thế trận hay, trình bày thứ tự rõ ràng thành khuôn phép. nhưng người đương thời ít ai hiểu được, thấy muôn đầu ngàn mối, cho là rối rắm chưa từng biến đổi. Như Lý Thuyên có soạn những điều suy diễn của mình, nhưng người đời sau cũng không hiểu ý nghĩa. Cho nên Quốc Công mới ra hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực...”


Sách gồm đủ ngũ hành tương ứng, cửu cung suy nhau, phối hợp cương nhu, tuần hoàn chẵn lẻ, không lẫn lộn âm với dương, thần với sát, phương với lợi, sao lành, hung thần, ác tướng, tam cát, ngũ hung đều rất rõ ràng, ngang với tam đại, trăm đánh, trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc có thể trấn ngữ hung nô, phía nam uy hiếp Lâm ấp. Rồi dùng sách dạy bảo con cháu làm gia truyền, không tiết lộ ra ngoài. Lại có lời dặn ràng:”Sau này con cháu và bồi thần của ta, ai học được bí mật này, phải sáng suốt mà thi hành, bày xếp thế trận không ngu dốt mà bày chữ truyền lời. Nếu không thế thì chẳng những mình phải chịu tai ương mà vạ lây đến con cháu. Thế gọi là tiết lộ thiên cơ đó”.


Phải chăng cùng với Vạn kiếp tông bí truyền thư đã có một nền khoa học cổ về “thuật âm dương” cũng bị thất truyền?

đánh giá lịch vạn niên

Những Quan điểm đánh giá lịch vạn niên


Thuật chiêm tinh chọn ngày, chọn giờ đáng tin hay không đáng tin?


Khoa học hay nhảm nhí? Thiết tưởng trả lời những vấn đề này cho thấu tình đạt lý e còn quá sớm!


Vận dụng quan điểm lịch sử và kiến thức khoa học hiện đại soi chiếu vào thuật chiêm tinh.


Thuật chiêm tinh với nhiều thuyết chồng chéo lên nhau qua nhiều thời kỳ nên cũng đã có nhiều bước thăng trầm: nhiều tà thuyết đã từng bị triệt tiêu. khi ánh sáng khoa học soi rọi vào, thì những hủ tục lạc hậu, tự thân nó đã bị tiêu huỷ.


Thí dụ: Thời xưa trong dân gian chưa biết nguyên do vì sao mặt trời ăn mặt trăng, người ta cho là gấu ăn trăng, từng vùng rộng lớn người ta phải khua chiêng đánh trống, đạp thùng gõ mõ làm huyên náo, inh ỏi lên để đuổi gấu. Sau một hồi lâu trăng sáng trở lại, tức là người ta tin rằng đã đuổi được gấu. Ngày nay khoa học đã dự báo chính xác từng giờ, từng phú có nhật thực, Nguyệt thực, thì tập tục gõ thùng tự nhiên biến mất không ai còn nhắc đến nữa.


Vạn vật biến chuyển, không có cái gì đứng nguyên tại chỗ: Thời xưa khắp nơi người ta xem ngày, xem giờ thời nay cũng còn xem ngày, xem giờ nhưng không lan tràn như trước. Thời xưa đi tắm, cắt tóc xem ngày, đi chữa bệnh cũng xem ngày, mua lợn, lót ổ cho gà đẻ cũng xem ngày, thậm chí đàn ông vào buồng ngủ với vợ cũng xem ngày. Bây giờ giá phỏng bạn có tuyên truyền cho lớp trẻ, cẩn thận xem đêm nào giờ tốt hãy nhập phòng, chắc chắn chỉ được trả lời bằng nụ cười chế diễu. Ngày xưa có thuyết nam nữ hợp mệnh. Trai tuổi gì lấy gái tuổi gì cho hợp, tuổi gì thì xung khắc vì ngày xưa hôn nhân gán ép, có những đôi vợ chồng, trước khi cưới chưa biết mặt nhau. Thời nay trai gái yêu nhau tha thiết, đã tìm hiểu đến “ngọn nguồn lạch sông”, sắp làm lễ thành hôn mà thầy bói còn bảo: “hai tuổi không hợp nhau” thì thật là tai hại, nói u ơ chạm phải cái tội chia uyên rẽ thuý, tức là làm điều thất đức. Thời xưa, trong thuật chiêm tinh còn kết hợp chọn ngày với chọn hướng, nhất là xây dựng nhà cửa, mồ mả và xuất hành, thời nay sống ở thành thị, đất nước đang dần dần công nghiệp hoá, không thể cá nhân nào muốn hướng nào cũng được. Vì vậy, vận dụng phong tục cổ không thể cứ “ xưa sao nay vậy”.


Tất cả những gì mắt ta không trông thấy, tai ta không nghe thấy, tay ta không sờ được, đều nằm trong vòng hoang tưởng. Nhưng có những điều xưa kia bị xếp ào hoang tưởng, ngày nay ứng dụng trong thực tế. Thí dụ: làn sóng điện vô tuyến, sức hút của mặt trăng, tia bức xạ của mặt trời từng giờ từng phút tác động đến cơ thể con người và mọi sinh vật trên trái đất. Có những điều tuy chưa được phổ biến ứng dụng trong thực tế, nhưng đã có luận chứng khoa học soi tỏ. Thí dụ: Thần giao cách cảm, nhịp sinh học và vận hạn con người...dần dần sẽ giúp ngừi ta vén tấm màn huyền bí, dắt ta thoát khỏi vòng mê tín. Vươn cao hơn nữa, con người còn có thể bắt nhịp của các vị “thần sao” trên cung hoàng đạo phục vụ lại lợi ích con người. (Tân Việt).

A. Những quan điểm phản bác:

B. Vua Trần Minh Tông với việc chọn ngày làm lễ an táng mẹ

C. Năm 1332 Thuận thánh bảo từ Hoàng Thái Hậu mất. Con là Thượng Hoàng Minh Tông lúc đó đã nhường ngôi cho con là Hiển Tông. Thượng Hoàng sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người tâu rằng: “Chôn cất năm nay tất hại người tế chủ”, Thượng Hoàng hỏi: “ ngươi biết là sang năm ta nhất định chết à”.

Người ấy trả lời là không biết. Thượng Hoàng hỏi lại: “ Nếu sang năm trở đi ta chắc chắn không chết thì hoãn việc chôn cất mẫu hậu cũng được, nếu sang năm ta chết thì lo xong việc chôn cất mẫu hậu chẳng hơn là chết mà chưa lo được việc đó ư? Lễ cát, lễ hung chọn ngày là vì coi trọng việc đó thôi, chứ đâu phải là câu nệ hoạ phúc như các nhà âm dương”.


Rốt cuộc vẫn cử hành lễ táng.


Lược trích bài: Người xưa phê phán thuật chọn ngày


Vương Sung đời nhà hán, người kế thừa tư tưởng duy vật của Tuân Huống- Hàn Phi, trong cuốn “Luận hành” kịch liệt phê phán tư tưởng mê tín kiêng kỵ và bác bỏ thuật chọn ngày tốt, ngày xấu . Ông công nhận làm việc phải chọn ngày, nhưng các thuật sĩ đề ra ngày tốt, ngày xấu có nhiều điều phi lý. Ông nêu lên một số thí dụ điển hình thịnh hành trong thời nhà Hán là mê tín vô căn cứ (về sau, nhà Thanh xét thấy nhiều tục dở nên đã bãi bỏ).


Thí dụ: ”Gội đầu ngày tý được nhiều người yêu, gội đầu ngày mão dễ bị bạc đầu...”. Thử hỏi ma lem xấu xí cứ gội đầu ngày tí xem có ai yêu không? Con gái xinh đẹp tuổi trăng tròn cứ gội đầu ngày mão xem có bac tóc không? May áo cũng chọn ngày. Cái ăn cái mặc là nhu cầu thiết thân của cơ thể. Vậy ăn có chọn ngày không? Tế tự chạm vào ngày Huyết kỵ, Nguyệt sát, tất gặp tai hoạ. Vương Sung phản bác cho rằng: Người ta “cảm vật tư thân” (cảm thấy vật mà nhớ người thân) cho nên cúng tế, “Sự tử như sự sinh” (thờ người chết cũng như thờ người sống).


Sở dĩ tế tự là để biểu lộ không quên ân đức tổ tiên. Vậy thì người sống ăn uống có chọn ngày đâu? Thần linh cũng cảm ứng như người sống sao phải chọn ngày? Nếu người chết không hay biết gì,không ăn uống được thì chọn ngày tốt tránh ngày xấu phỏng có ích gì? Làm nhà phải đào đất xây móng động chạm đến thổ thần long mạch, phải kiêng ngày “Thổ cấm, thổ kỵ..”. Nhu cầu thiết thân của con người là nơi ăn chốn ở, con người không hề có ác ý xúc phạm đến thổ thần, sao thổ thần nỡ gieo tai vạ. Cày bừa cũng chạm đến thần đất, cũng ngày đó “Thổ cấm, thổ kỵ...”.Sao thần đất lại không quở trách...


Lược trích lời Lư Tăng (đời nhà Đường) phê phán nhà cầm quyền không chăm lo chính sự, chỉ lo những việc mê tín.


...”Nước nhà thịnh thì nghe dân, nước nhà suy vong thì nghe thần. Hoạ phúc không tự chọn cửa vào, mà do người tự rước lấy. Người không gây hấn, thì yêu quái không tự tiện hành hung. Thịnh suy, được mất, đều là việc của người, dữ lành, nhầm lẫn không đổ tại thiên thời”.


...”Nếu chính sự tốt lành, hình ngục không quá lạm, thì nhân dân sống lâu; bớt phu dịch, sưu thuế, thì nhân dân no ấm; pháp lệnh rõ ràng, không sớm ban chiều đổi thì nước nhà ổn định; thưởng phạt đúng lúc thì binh lực hùng cường”.


...”Chiêu hiền đãi sĩ, không phải chọn ngày, án xử công minh, không cần bói toán. Thương người gian nan vất vả, quý kẻ có công lao thì không làm lễ cầu phúc vẫn được ban phúc. Đó chính là: Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hoà.”


Lời bàn của Lưu Đạo Siêu: Việc nhà nước cũng vậy, việc nhân dân cũng vậy. Nếu chọn được ngày tốt dễ động thổ, nhưng ăn bớt nhân công, ăn cắp nguyên vật liệu, làm sao nhà vững được. Nếu chọn ngày thật tốt để mưu đồ phạm pháp , thì trời nào bảo đảm không sa lưới pháp luật.


Chuyện Tống Trung và Giả Nghi gặp Tư Mã Quý chủ:

“Sử ký- Nhật giả liệt truyện” kể rằng:


Trung đại phu tống trung và Bác sĩ giả Nghi là hai hiền sĩ có tiếng thời Lưỡng Hán. Một hôm, hai ông trên đường đi hóng mát, gặp Tư Mã Quý Chủ đang giảng giải cho học trò về đạo trời đất, về quy luật vận hành của mặt trời, mặt trăng và cội nguồn âm dương lành dữ. Nghe Quý Chủ biện luận rất tinh tường, hai ông bèn hỏi: “ Chúng tôi thấy ông diện mạo hiên ngang, ngôn từ thanh toát, quả là người hiếm có trên đời, cớ sao ông còn ở địa vị thấp hèn, kiếm sống bằng nghề hèn mọn này?”


Tư Mã Quý Chủ cung kính mời hai vị nọ ngồi, rồi mỉm cười phân tích những điều tệ hại của những kẻ được gọi là hiền sĩ, những thủ đoạn bỉ ổi của những kẻ được tôn xưng là cao quý, sau đó hùng biện tác dụng của thuật số và chí hướng tinh thần của thuật sĩ. Ông cao hứng biện bạch làm cho hai vị khách quý nghe xong phải thán phục ra về.

Tục chọn ngày giờ tồn tại ở nước ta

Phải chăng tục chọn ngày chọn giờ chỉ tồn tại ở nước ta và các nước nông nghiệp lạc hậu ?



Việt

Nam, Trung Quốc thời xưa chỉ sống về nông nghiệp. Ngày nay nước ta vẫn chưa thoát khỏi nền nông nghiệp lạc hậu. Cái ăn, cái mặc, nơi ở thuộc bản năng sinh sống của con người. Vì vậy, lịch pháp và thiên văn học cổ đại cảu Trung Quốc và Phương Đông nói chung rất chú trọng đến thời tiết. Đặc biệt lịch tiết khí, lịch mặt trăng là loại lịch độc đáo chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Thuật chiêm tinh cũng vậy. Xin chỉ dẫn ra đây một loạt công việc dựa vào Thuật chiêm tinh để tìm ra ngày tháng tốt lành.

Săn bắn: Ngày vào rừng, ngày tế Sơn tinh, Bạch hổ, ngày phạt mộc, ( ngày đốn cây làm chòi, làm lán, ngày lui rời sơn trại, mùa thu hái, mùa đốn củi, săn bắn...)

Đánh bắt cá: Ngày hành thuyền thả lưới, ngày tế thần hà bá.

Trồng trọt: Ngày ươm giống, ngày gieo mạ, ngày cấy, ngày gặt, ngày lế thần nông, ngày cúng cơm mới, ngày nhập kho, ngày nạp lương...

Chăn nuôi: Ngày làm chuồng, ngày mua giống lợn, bò dê ngựa chó méo, ngày lót ổ cho gà đẻ, ngày bắt đầu nuôi tằm, ngày kéo tơ, ngày lấy mật ong, ngày san tổ ong....

Tất nhiên thời nay người ta không chọn tất cả những ngày nói trên nữa, liệt kê ra để chứng minh: sản xuất nông nghiệp rất gắn bó với Thuật chọn ngày.

Các nước Công nghiệp tiên tiến, cũng có tục chọn ngày: 12 chòm sao trên đường Hoàng đạo theo thiên văn học phương Tây, đối chiếu với 12 trực và nhị thập bát tú của phương Đông có những nét tương tự, cách đặt tên các sao theo tên các thiên thần tuy không giống phương Đông nhưng cũng là Thần sát.

Qua bài “ trong con số có điều gì thần bí” ta thấy số 13 là con số kiêng kỵ của nhiều nước phương Tây.

Theo Lưu- Đạo –Siêu: nhân vật sùng tín thuật chọn ngày tiêu biểu nhất là tổng thống Mỹ Rigân. Lịch công tác cả năm của Rigan dựa vào ngày do một nhà nữ chiêm tinh vạch sẵn: Ngày tốt; mầu lục, ngày trung bình: màu vàng, ngày xấu: màu đỏ. Căn cứ vào đó mà chánh văn phòng Tổng thống đặt lịch công tác: ngày nào đi nước ngoài, ngày nào lên máy bay, ngày nào ký các hiệp ước, ngày nào tiếp khách bình thường, ngày nào phải hoàn toàn nghỉ việc.

Thuật chiêm tinh trung quốc

Thuật chiêm tinh trung quốc

Nước ta cũng như các nước Phương Đông, chịu ảnh hưởng của nền văn hoá Trung Quốc, vì vậy trước khi nghiên cứu lịch Vạn niên của ta, không thể bỏ qua lịch vạn niên Trung Quốc.


Trên ba nghìn ươm giống nảy mầm:


Sở dĩ gọi là thuật chiêm tinh (thuật đoán sao), vì các thuật sĩ dựa vào thiên văn học cổ đại, nhìn sao trên trời mà đoán việc đời. Việc đời có tốt, có xấu, có rủi, có may, muốn biết trước phải dựa vào Thuật số. Cơ sở của thuật số là thuyết âm dương ngũ hành kết hợp với dịch lý trong Kinh dịch và kết hợp khéo léo với các yếu tố tự nhiên khác quy định trong lịch pháp thiên văn cổ đại. Vì vậy, các nhà chiêm tinh cũng được gọi là các nhà “âm – dương”.


Theo Lưu-Đạo-Siêu (Giáo sư sử học Trung Quốc)Thuật số đã được hình thành ở Trung Quốc khoảng 3000 năm trước Công Nguyên. Đến thời nhà Hán (206TCN-220)đã hình thành một tầng lớp thuật sĩ chuyên nghiệp với trên 20 thuyết khác nhau.


Chuyện Hán Vũ Đế với các nhà chiêm tinh


“Sử ký- Nhật giả liệt truyện” có ghi lại câu chuyện sau đây:

Hán Vũ Đế (năm 23-56 sau CN) triệu các nhà chiêm tinh hỏi ngày, tháng x, cưới vợ được hay không?Người theo thuyết ngũ hành bảo được, người theo thuyết “Kham dư” bảo không được, người theo thuyết “Kiến trừ” bảo xấu, người theo thuyết “Tùng thời” bảo rất xấu, người theo thuyết “Lịch gia” bảo hơi xấu, người theo thuyết”Thiên thân” bảo tốt vừa, người theo thuyết “thái nhất” bảo đại cát. Tranh cãi nhau hồi lâu, đỏ mặt tía tai không ai chịu ai. Cuối cùng Hán Vũ Đế phán: Mọi điều nên hay kiêng, phải lấy thuyết “Ngũ hành” là chính, kết thúc buổi tranh luận. Kế từ đó thuyết ngũ hành được phát triển.


Lời bình của Tân Việt:


Qua câu chuyện trên ta thấy hai ngàn năm về trước đã có nhiều thuyết như vậy, chỉ mỗi vấn đề đơn giản, mà mỗi người trả lời một phách huống gì qua mỗi thời, ta lại có những thuyết mới trồng lên thuyết cũ, cho nên các thầy thuật số bài bác nhau, “Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”.

Tiền thân của lịch vạn niên Trung Quốc:


Lịch pháp định do vua ban đã có từ thời xưa khoảng 3000 năm trước công nguyên ( không có thời điểm xác định vì không còn có cứ liệu lịch sử).


Ta chỉ biết cuốn hoàng lịch xa xưa nhất đã được phát hiện là cuốn Hoàng lịch năm Bính Tuất năm thứ tư triều Đồng Quang nhà Hậu đường (926). trong lich thư đó đã ghi đầy dủ theo các mục lịch pháp định thông thường, ngoài ra còn ghi ngày nào thuộc trực gì và các việc nên làm, nên tránh từng ngày (theo Lưu đạo Siêu).


Từ thời nhà Hán đến nhà Thanh, trên thị trường nảy nở đến hàng trăm thuật thuyết. Quay vòng 60 năm Hoa giáp và 24 phương vị đã có la liệt hàng vạn tên hung tinh, cát tinh.


Vua khang Hy nhà Thanh (1662-1722) xét thấy tình trạng chọn ngày tốt xấu quá hỗn loạn, bèn triệu tập các học sĩ có tiếng trong nước thời đó, thống nhất biện luận về các loại thần sát ( hung tinh, cát tinh) soạn thành lịch thư. Từ đó giao cho một số học giả dùng làm cứ liệu soạn lịch hàng năm, còn có các loại tạp thuật nhảm nhí bị bãi bỏ. Vua Khang Hy lệnh cho nhóm học sĩ Lý- Quang- Địa biên soạn cuốn tinh lịch khảo nguyên.


Tiếp đến vua Càn Long nhà Thanh (1736-1795), lệnh cho nhóm học sĩ Doãn- Lộc, Mai- Cốc-Thành, Hà- Quốc- Tông... biên soạn cuốn Hiệp kỷ biện phương thư, nhằm bổ sung cho Tinh lịch khảo nguyên được hoàn hảo hơn. Hiệp kỷ biện phương thư phê phán những tà thuyết lưu truyền trong xã hội đương thời, đồng thời đính chính lại những sai sót trong Lịch thư cảu Toà Khâm Thiên giám.


Đến triều đạo Quang nhà Thanh (1821-1849) ( ngang với triều Minh Mạng, Thiệu Trị nhà Nguyễn nước ta) có cuốn Trạch cát hội yếu do Diêu- Thừa – Dư soạn, toàn thư gồm 4 quyển, nội dung xúc tích đầy đủ, bao hàm được những phần cơ bản của Hiệp kỷ biện phương thư.


Có thể nói 3 quyển- Tinh lịch khảo nguyên, Hiệp kỷ biện phương thư và Trạch cát hội yếu nói trên là tiền thân của lịch Vạn niên Trung Quốc.


Lịch vạn niên hình thành:

Hiệp kỷ biện phương thư là cuốn Hoàng lịch thông thư hoàn hảo nhất, nhưng là một công trình quá đồ sộ, toàn thư gồm 36 tạp, chỉ có thể dùng làm cơ sở để toà Khâm Thiên giám biên soạn lịch hàng năm. Thời xưa phương tiện thông tin đại chúng còn quá thô sơ, điều kiện ấn loát còn nhiều khó khăn, Hoànglịch ban hành với số lượng rất hạn chế, đến tay quần chúng nhân dân rất chậm, nhiều dịa phương còn phải khắc in lại, nên lịch hàng năm dễ lỗi thời, chỉ dùng được một thời gian ngẵn hoạc quá hạn phải bỏ đi. Đó là những nguyên cớ hình thành lịch vạn niên ( lịch dùng cho nhiều năm). Lịch vạn niên phải súc tích , cô đọng và thông dụng. ở trung quốc lịch Vạn niên chỉ mới ra đời khoảng triều Đạo Quang, Quang –Tự nhà Thanh (thế kỷ 19).


Giới thiệu Hiệp kỷ biện phương thư Hoàng lich triều càn long nhà Thanh(1736-1795)

Tác giả: Doãn- Lộc, Mai- Cốc-Thành, Hà- Quốc- Tông, biên soạn theo lệnh chỉ của vua Càn – Long


Toàn thư có 36 quyển:


Quyển 1 và 2 gọi là Bản nguyên:
Nêu những kiến thức cơ bản về cách làm lịch gồm Hà đồ, Lạc thư, Tiên thiên bát quái của Phục Hy, hậu thiên bát quái của Chu Văn Vương, học thuyết âm dương ngũ hành, can chi, thập nhị trực, 28 sao, 24 phương vị, 24 tiết khí và căn cứ lý luận của thuật chọn ngày giờ.


Quyển 3 đến quyển 8 gọi là Nghĩa lệ:
Giới thiệu tên các sao, tính chất nguồn gốc, cương vị và quy luật vận hành của các sao gộp thành 4 loại thần sát: sao vận hành theo năm, tháng, ngày, giờ


Quyển 9 gọi là lập thành: Sắp xếp các loại thần sát nói trên thành từng đồ biểu.


Quyển 10 gọi là Dụng sự: sắp xếp các sao nói trên theo việc, có đến 67 việc của Vua và Triều đình dùng, 37 việc của nhân dân dùng.


Quyển 11 gọi là Nghi kỵ: (nên chọn và nên tránh); nêu tên các sao tốt xấu đối với từng việc. Quyển này có phân biệt mức độ tốt xấu để tuỳ việc mà chọn.


Quyển 12 và 13 gọi là Công quỹ: Giới thiệu đường đi của mặt trời qua các cung Hoàng đạo, Hắc đạo, phân định thời khắc ngày đêm, phương vị mặt trời mọc, mặt trời lặn, thời khắc giao nhau giữa 24 tiết.


Quyển 14-19 gọi là Niên biểu: Xếp theo lục thập hoa giáp, cứ 10 năm là một giáp (1- giáp tý, 2- Giáp tuất, 3- Giáp thân, 4- Giáp ngọ, 5- Giáp thìn, 6- Giáp dần) mỗi giáp một quyển.


Quyển 20-31gọi là Nguyệt biểu: Mỗi tháng một quyển (chú ý: Tính tháng 60 ngày Giáp tý đến Quý hợi, không phải 30 ngày hay 29 ngày như tháng âm lịch bình thường).


Quyển 32 gọi là nhật biểu: Căn cứ theo 60 ngày hàng can,hàng chi mà tính sao tốt sao xấu của 12 thì ( Tý đến Hợi: mỗi thì 2 tiếng đồng hồ).


Từ quyển 33-36: Hướng dẫn cách sử dụng và phê phán bác bỏ những tạp thuyết khác. Trong đó quyển 35 gọi là phụ lục: nêu lên một số tạp thuật chẳng có nghĩa lý gì, nhưng thế tục còn lưu truyền. Đồng thời nêu lên một số tạp thuật khác tự hình thành những loại tên thần sát khác hẳn với thần sát truyền thống. thí dụ : “Nam, nữ cửu cung”, “Nhân thần sở tại”, “ Thái bạch du phương từng ngày”, nào là bách kỵ, ngày cúng ông táo, ngày gội đầu, ngày “ngũ tinh tu trạch” (năm họ sửa nhà). Thuyết “Chu đường giá thú”...


Quyển 36 gọi là Biện nguỵ: Tác giả vận dụng luật Vượng, tướng, hưu, từ, tử,luật xung khắc chế hoá âm dương, ngũ hành, can chi mà nêu lên những luận điểm phê phán bác bỏ những hung tinh, cát tinh, không phù hợp với luận thuyết trên. Trong quyển này có nhiều vấn đề đã bị đưa ra phê phán công kích như: “ Tháng đại lợi cho nam nữ hợp hôn”, “ 24 thần sát tuần hành trên núi”, “Dịch mã lâm quan”, “ Hoả huyết đao chiêm”, “ Nghịch huyết nhẫn” , “ ám đao sát”, “Ngày thần tại, Ngày Phục đoan, Ngày bất tường, Ngày băng tiêu”...