Đằng Vương các tự - 滕王閣序
Đằng Vương các tự (Vương Bột - 王勃, Trung Quốc)
滕王閣序
Đằng Vương các tự
Bài tự về gác Đằng Vương (Người dịch: Trần Trọng San)
南昌故郡,洪都新府。
星分翼軫,地接衡廬。
襟三江而帶五湖,控蠻荊而引甌越。
物華天寶,龍光射牛鬥之墟;
人傑地靈,徐稚下陳蕃之榻。
雄州霧列,俊采星馳,
臺隍枕夷夏之交,賓主盡東南之美。
都督閻公之雅望,綮戟遙臨;
宇文新州之懿范,襜帷暫駐。
十旬休暇,勝友如雲;
千里逢迎,高朋滿座。
騰蛟起鳳,孟學士之詞宗;
紫電青霜,王將軍之武庫。
家君作宰,路出名區;
童子何知,躬逢勝餞。
時維九月,序屬三秋。
潦水盡而寒潭清,煙光凝而暮山紫。
儼驂騑於上路,訪風景于崇阿。
臨帝子之長洲,得仙人之舊館。
層臺聳翠,上出重霄;
飛閣流丹,下臨無地。
鶴汀鳧渚,窮島嶼之縈回;
桂殿蘭宮,列岡巒之體勢。
披繡闥,俯雕甍,
山原曠其盈視,川澤盱其駭矚。
閭閻撲地,鍾鳴鼎食之家;
舸艦迷津,青雀黃龍之軸。
虹銷雨霽,彩徹雲衢。
落霞與孤鶩齊飛,秋水共長天一色。
漁舟唱晚,響窮彭蠡之濱;
雁陣驚寒,聲斷衡陽之浦。
遙襟俯暢,逸興遄飛。
爽籟發而清風生,纖歌凝而白雲遏。
淇園綠竹,氣淩彭澤之樽;
鄴水朱華,光照臨川之筆。
四美具,二難并。
窮睇眄于中天,極娛遊於暇日。
天高地迥,覺宇宙之無窮;
興盡悲來,識盈虛之有數。
望長安于日下,指吳會於雲間。
地勢極而南溟深,天柱高而北辰遠。
關山難越,誰悲失路之人?
萍水相逢,盡是他鄉之客。
懷帝閽而不見,奉宣室以何年?
嗟乎!
時運不濟,命途多舛。
馮唐易老,李廣難封。
屈賈誼于長沙,非無聖主;
竄梁鴻于海曲,豈乏明時。
所賴君子安貧,達人知命。
老當益壯,寧知白首之心?
窮且益堅,不墜青雲之志。
酌貪泉而覺爽,處涸轍以猶歡。
北海雖賒,扶搖可接;
東隅已逝,桑榆非晚。
孟嘗高潔,空懷報國之心;
阮籍倡狂,豈效窮途之哭!
勃三尺微命,一介書生。
無路請纓,等終軍之弱冠;
有懷投筆,慕宗愨之長風。
舍簪笏於百齡,奉晨昏於萬里。
非謝家之寶樹,接孟氏之芳鄰。
他日趨庭,叨陪鯉對;
今晨捧袂,喜托龍門。
楊意不逢,撫淩雲而自惜;
鍾期既遇,奏流水以何慚?
嗚呼!
勝地不常,盛筵難再。
蘭亭已矣,梓澤丘墟。
臨別贈言,幸承恩於偉餞;
登高作賦,是所望於群公。
敢竭鄙誠,恭疏短引。
一言均賦,四韻俱成。
請灑潘江,各傾陸海雲爾。
滕王高閣臨江渚,
佩玉鳴鸞罷歌舞。
畫棟朝飛南浦雲,
珠帘暮捲西山雨。
閒雲潭影日悠悠,
物換星移幾度秋。
閣中帝子今何在?
檻外長江空自流。
Nam Xương cố quận, Hồng Đô tân phủ.
Tinh phân Dực Chẩn, địa tiếp Hành Lư.
Khâm tam giang nhi đới ngũ hồ, khống Man Kinh nhi dẫn Âu Việt.
Vật hoa thiên bảo, long quang xạ Ngưu Đẩu chi khư;
Nhân kiệt địa linh, Từ Trĩ hạ Trần Phồn chi tháp.
Hùng châu vụ liệt, tuấn thái tinh trì,
Đài hoàng chẩm Di Hạ chi giao, tân chủ tận đông nam chi mỹ.
Đô đốc Diêm công chi nhã vọng, khể kích dao lâm;
Vũ Văn tân châu chi ý phạm, xiêm duy tạm trú.
Thập tuần hưu hạ, thắng hữu như vân;
Thiên lý phùng nghinh, cao bằng mãn toạ.
Đằng giao khởi phụng, Mạnh học sĩ chi từ tông;
Tử điện thanh sương, Vương tướng quân chi võ khố.
Gia quân tác tể, lộ xuất danh khu;
Đồng tử hà tri, cung phùng thắng tiễn.
Thời duy cửu nguyệt, tự thuộc tam thu.
Lạo thuỷ tận nhi hàn đàm thanh, yên quang ngưng nhi mộ sơn tử.
Nghiễm tham phi ư thượng lộ, phỏng phong cảnh vu sùng a.
Lâm đế tử chi Trường Châu, đắc tiên nhân chi cựu quán.
Tằng đài tủng thuý, thượng xuất trùng tiêu;
Phi các lưu đan, hạ lâm vô địa.
Hạc đinh phù chử, cùng đảo tự chi oanh hồi;
Quế điện lan cung, liệt cương loan chi thể thế.
Phi tú thát, phủ điêu manh,
Sơn nguyên khoáng kỳ doanh thị, xuyên trạch hu kỳ hãi chúc.
Lư diêm phác địa, chung minh đỉnh thực chi gia;
Khả hạm mê tân, thanh tước hoàng long chi trục.
Hồng tiêu vũ tễ, thái triệt vân cù.
Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
Ngư chu xướng vãn, hưởng cùng Bành Lễ chi tân;
Nhạn trận kinh hàn, thanh đoạn Hành Dương chi phố.
Dao khâm phủ sướng, dật hứng thuyên phi.
Sảng lại phát nhi thanh phong sinh, tiêm ca ngưng nhi bạch vân át.
Kỳ Viên lục trúc, khí lăng Bành Trạch chi tôn;
Nghiệp thuỷ châu hoa, quang chiếu Lâm Xuyên chi bút.
Tứ mỹ cụ, nhị nan tinh.
Cùng thê miện vu trung thiên, cực ngu du ư hạ nhật.
Thiên cao địa huýnh, giác vũ trụ chi vô cùng;
Hứng tận bi lai, thức doanh hư chi hữu số.
Vọng Trường An vu nhật hạ, chỉ Ngô Hội ư vân gian.
Địa thế cực nhi nam minh thâm, thiên trụ cao nhi bắc thần viễn.
Quan san nan việt, thuỳ bi thất lộ chi nhân ?
Bình thuỷ tương phùng, tận thị tha hương chi khách.
Hoài đế hôn nhi bất kiến, phụng Tuyên thất dĩ hà niên ?
Ta hồ!
Thời vận bất tế, mệnh đồ đa suyễn.
Phùng Đường dị lão, Lý Quảng nan phong.
Khuất Giả Nghị vu Trường Sa, phi vô thánh chủ;
Thoán Lương Hồng vu Hải Khúc, khởi phạp minh thời.
Sở lại quân tử an bần, đạt nhân tri mệnh.
Lão đương ích tráng, ninh tri bạch thủ chi tâm ?
Cùng thả ích kiên, bất truỵ thanh vân chi chí.
Chước Tham tuyền nhi giác sảng, xử hạc triệt dĩ do hoan.
Bắc hải tuy xa, phù dao khả tiếp;
Đông ngung dĩ thệ, tang du phi vãn.
Mạnh Thường cao khiết, không hoài báo quốc chi tâm;
Nguyễn Tịch xướng cuồng, khởi hiệu cùng đồ chi khốc!
Bột tam xích vi mệnh, nhất giới thư sinh.
Vô lộ thỉnh anh, đẳng Chung Quân chi nhược quán;
Hữu hoài đầu bút, mộ Tông Xác chi trường phong.
Xả trâm hốt ư bách linh, phụng thần hôn ư vạn lý.
Phi Tạ gia chi bảo thụ, tiếp Mạnh thị chi phương lân.
Tha nhật xu đình, thao bồi Lý đối;
Kim thần phủng duệ, hỉ thác Long môn.
Dương Ý bất phùng, phủ Lăng vân nhi tự tích;
Chung Kỳ ký ngộ, tấu lưu thuỷ dĩ hà tàm ?
Ô hô!
Thắng địa bất thường, thịnh diên nan tái.
Lan Đình dĩ hĩ, Tử Trạch khâu khư.
Lâm biệt tặng ngôn, hạnh thừa ân ư vĩ tiễn;
Đăng cao tác phú, thị sở vọng ư quần công.
Cảm kiệt bỉ thành, cung sơ đoản dẫn.
Nhất ngôn quân phú, tứ vận câu thành.
Thỉnh sái Phan giang, các khuynh lục hải vân nhĩ.
Đằng Vương cao các lâm giang chử,
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ.
Hoạ đống triêu phi Nam Phố vân,
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Các trung đế tử kim hà tại ?
Hạm ngoại trường giang không tự lưu.
(Đây là) quận cũ Nam Xương; phủ mới Hồng Đô.
Sao chia ngôi Dực, ngôi Chẩn; đất nối núi Hành, núi Lư.
Như cổ áo của ba sông, vòng đai của năm hồ; khuất phục đất Man Kinh, tiếp dẫn miền Âu Việt.
Vẻ rực rỡ của vật chính là đồ quý báu của trời; ánh sáng vằn rồng chiếu lên khu vực sao Đẩu sao Ngưu.
Bậc hào kiệt nơi người do khí linh tú của đất mà có; nhà cao sĩ Từ Trĩ hạ chiếc giường treo của Trần Phồn.
Chốn hùng châu như sương mù giải giăng; nguời anh tuấn như ngôi sao rong ruổi.
Đài, hào nằm gối lên giao giới vùng Di, Hạ; khách, chủ đều là những vẻ đẹp miền đông, nam.
Tiếng tăm tốt của đô đốc Diêm Bá Tự cùng với những khải kích đi đến miền xa.
Quan thái thú Vũ Văn Quân, là mô phạm của châu mới, tạm dừng xe tại chốn này.
Mười tuần nhàn rỗi, bạn tốt như mây.
Ngàn dặm đón chào, bạn hiền đầy chỗ.
Giao long vượt cao, phụng hoàng nổi dậy, đó là tài hoa của Mạnh học sĩ, ông tổ của từ chương.
Tia chớp tía, hạt sương trong, đó là tiết tháo của Vương tướng quân, nhà cai quản võ khố.
Nhân gia quân làm quan tể tại Giao Châu, tôi đi thăm miền nổi tiếng đó.
Kẻ đồng tử này đâu biết có việc chi, hân hạnh gặp buổi tiệc linh đình.
Lúc này đương là tháng chín, thuộc về ba thu.
Nước rãnh cạn, đầm lạch trong; ánh khói đọng, núi chiều tia.
Trông ngựa xe trên đường cái; hỏi phong cảnh nơi gò cao.
Đến miền Trường Châu của đế tử; tìm được quán cũ của người tiên.
Núi non cao biếc, nhô khỏi lớp mây; bóng gác bay, màu son chày, dưới không sát đất.
Bến hạc, bãi phù quanh co đến tận đảo cồn; điện quế, cung lan bày ra cái thể thế của núi non.
Mở rộng cửa tô; cúi xem cột chạm.
Đồng núi trông rộng khắp; sông đầm nhìn hãi kinh.
Cửa ngõ giăng mặt đất, đó là những nhà rung chuông, bày vạc.
Thuyền bè chật bến sông, trục vẽ chim sẻ xanh, rồng vàng.
Cầu vồng tan, cơn mưa tạnh; vẻ rực sáng, suốt đường mây.
Ráng chiều rơi xuống, cùng cái cò đơn chiếc đều bay; làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.
Thuyền câu hát ban chiều, tiếng vang đến bến Bành Lễ.
Bầy nhạn kinh giá rét, tiếng kêu dứt bờ Hành Dương.
Khúc ngâm xa xôi sảng khoái; hứng thú phiêu dật bay nhanh.
Tiếng vui phát sinh, gió mát nổi dậy; ca nhẹ lắng chìm, mây trắng lưu lại.
Tre lục vườn Kỳ, khí lan chén rượu Bành Trạch.
Sắc đỏ sông Nghiệp, ánh soi ngọn bút Lâm Xuyên.
Sẵn bốn điều hay; đủ hai bậc tốt.
Ngắm trông khắp cả khoảng trời; vui chơi hết ngày nhàn rỗi.
Trời cao, đất xa, biết vũ trụ rộng vô cùng.
Hứng hết, buồn về, hiểu đầy vơi là có số.
Trông Trường An dưới mặt trời; trỏ Ngô Hội trong khoảng mây.
Thế đất tận cùng, biển Nam sâu thẳm; cột trời cao ngất, sao Bắc xa xôi.
Quan san khó vượt, nào ai sót thương người lạc lối ?
Bèo nước gặp nhau, hết thảy đều là khách tha hương.
Tưởng nhớ chốn cửa vua, không trông thấy được; phụng chiếu nơi Tuyên Thất, chẳng biết năm nào.
Than ôi!
Thời vận chẳng bình thường; đường đời nhiều ngang trái.
Phùng Đường dễ thành già cả; Lý Quảng khó được phong hầu.
Giả Nghị bị khuất nơi Trường Sa, chẳng phải không vua hiền thánh.
Lương Hồng phái náu miền Hải Khúc, đâu có thiếu thời quang minh.
Nhờ được: người quân tử vui cảnh nghèo; bậc đạt nhân biết rõ mệnh.
Tuổi già càng phải mạnh hơn, nên hiểu lòng ông đầu bạc.
Lúc cùng hãy nên thêm vững, không rớt chí đường mây xanh.
Uống nước suối Tham, lòng vẫn sáng; ở nơi cùng khổ, bụng còn vui.
Biển bắc tuy xa xôi, nhưng cưỡi gió có thể đi tới.
Đã để trôi qua lúc mặt trời mọc ở phương đông, nhưng khi bóng lặn khóm tang du, phải đâu đã muộn.
Mạnh Thường thanh cao, vẫn mang tấm lòng báo quốc.
Nguyễn Tịch rồ dại, há bắt chước tiếng khóc đường cùng.
Bột này là đứa nhỏ cao ba thước, một gã học trò.
Không có đường xin dải dây dài, như tuổi niên thiếu của Chung Quân.
Nhưng có hoài bão vứt cây bút, yêu mến cơn gió dài của Tông Xác.
Bỏ rơi trâm hốt ở trăm năm; theo việc thần hôn ngoài vạn dặm.
Tuy không phải là cây báu nhà họ Tạ; nhưng được ở gần hàng xóm tốt của họ Mạnh.
Ngày sau, tôi sẽ rảo bước trước sân, lạm phụ thêm lời đối đáp của ông Lý.
Sớm nay, nâng tay áo, vui mừng được gửi gắm họ tên tại cổng rồng.
Không còn được gặp Dương Ý, nên đọc thiên lăng vân mà tự tiếc.
Nhưng đã gặp Chung Kỳ, thì tấu khúc lưu thuỷ có hổ thẹn gì.
Than ôi!
Chốn danh thắng chẳng thường tồn tại; bữa tiệc lớn khó gặp hai lần.
Lan Đình còn đâu nữa, Tử Trạch thành gò hoang.
Hân hạnh được thừa ân Diêm công trong bữa tiệc vĩ đại này, tôi viết lời tặng khi lâm biệt.
Còn như lên cao làm phú, đó là việc mong mỏi nơi các ông.
Xin dốc lòng thành quê kệch; cung kính làm bài tự ngắn.
Trước ngỏ một lời, sau bày tình ý; đồng thời bốn vận đều xong.
Mời rảy nước sông Phan, cùng làm cho nghiêng mây trong đất liền lẫn mây ngoài biển vậy.
Bên sông, đây gác Đằng Vương.
Múa ca đã tắt, ngọc vàng nào ai ?
Cột rồng Nam Phố mây bay.
Rèm châu mưa cuốn ngàn Tây, sớm chiều.
In đầm, mây vẩn vơ trôi.
Tang thương vật đổi, sao dời mấy thâu.
Đằng vương trong gác giờ đâu ?
Trường Giang nước vẫn chảy mau mé ngoài.
Con vua Đường Cao Tổ là Nguyên Anh được phong là Đằng Vương, xây cất gác này khi nhận chức thứ sử tại Hồng Châu. Năm Hàm Thuần thứ hai, thứ sử Hồng Châu là Diêm Bá Tự mở đại yến ở đây, sai con rể là Ngô Tử Chương chuẩn bị trước một bài tự để mang ra khoe với tân khách. Trong bữa tiệc, họ Diêm sai đem giấy bút ra mời khách làm văn, nhưng không ai dám nhận. Duy có Vương Bột không từ chối. Họ Diêm sai người ngó bài của Vương Bột. Khi được nghe đến câu "Lạc hà dữ cô vụ tề phi" thì thán phục, khen là thiên tài, bèn thỉnh cầu Vương Bột tiếp tục hoàn thành bài tự.
Hiển thị các bài đăng có nhãn POETRY. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn POETRY. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2008
Thanh bình điệu, Lý Bạch
Lý Bạch
清平調其一
Thanh bình điệu kỳ 1
Khúc hát thanh bình kỳ 1 (Người dịch: Trần Trọng San)
雲想衣裳花想容,
春風拂檻露華濃。
若非群玉山頭見,
會向瑤臺月下逢。
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng.
Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây,
Hiên sương phơ phất gió xuân bay.
Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc,
Dưới nguyệt Dao Đài sẽ gặp ai.
(Năm 743)
Năm Khai Nguyên, Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi ở đình Trầm Hương ngắm hoa mẫu đơn, lệnh cho Lý
Bạch làm ba bài "Thanh bình điệu" này. Trong 3 bài này, Lý Bạch có ví Dương Quý Phi với hoa mẫu đơn.
清平調其二
Thanh bình điệu kỳ 2
Khúc hát thanh bình kỳ 2 (Người dịch: Trần Trọng San)
一枝紅艷露凝香,
雲雨巫山枉斷腸。
借問漢宮誰得似,
可憐飛燕倚新粧。
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thuỳ đắc tự,
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.
Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương,
Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương.
Hỏi nơi cung Hán ai người giống ?
Phi Yến còn nhờ mới điểm trang.
(Năm 743)
清平調其三
Thanh bình điệu kỳ 3
Khúc hát thanh bình kỳ 3 (Người dịch: Trần Trọng San)
名花傾國兩相歡,
長得君王帶笑看。
解釋春風無限恨,
沉香亭北倚闌幹。
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
Trường đắc quân vương đới tiếu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm Hương đình bắc ỷ lan can.
Hoa trời, sắc nước thảy đều vui,
Luôn được vua trông với nụ cười.
Mối hận gió xuân bay thoảng hết,
Bên đình, thơ thẩn tựa hiên chơi.
(Năm 743)
Trương Thái Du dịch thơ
1. Khúc thanh bình
Lý Bạch
Tưởng mây là áo mặt là hoa
Gió xuân sương sớm níu hiên nhà
Nếu chẳng gặp người trên Quần Ngọc
Thì hẹn Dao Đài dưới ánh Nga.
Một đóa hồng tươi, ngát lệ sương
Núi Vu thần nữ uổng buồn vương
Hỏi trong cung Hán ai nào sánh
Thương Triệu ái phi cậy phấn hương.
Người đẹp cùng vui với chúa hoa
Vua ngắm cười hoài, mãi kiêu sa
Khỏa đi muôn hận xuân đưa gió
Tựa song đình bắc thưởng trầm xa.
Dịch năm 1999
Chú thích: Một hôm nhân lúc hoa Thược Dược nở, Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi tụ hội để đàn hát. Lý
Bạch đang say rượu vẫn bị khiêng tới để làm thơ. Trong men nồng, ông múa bút thành bài ca trên. Chính vì
ngầm so sánh Dương Quý Phi với Triệu Phi Yến trong thơ, về sau ông bị thất sủng. Mối giao cảm giữa thi sĩ và
thân phận Triệu Phi Yến hóa ra là ý thức về chính mình của Lý Bạch, ông chẳng khác nào phấn hương của vua
chúa. Quần Ngọc, Dao Đài: nơi ở của Tây vương mẫu, đại khái là thiên đường cực lạc vậy. Vu sơn: Sở Tương
Vương đi chơi ở đất Cao Đường, nằm mộng ái ân với thần nữ núi Vu. Vị thần này sớm làm mây, khuya làm mưa
ở Dương Đài.
清平調其一
Thanh bình điệu kỳ 1
Khúc hát thanh bình kỳ 1 (Người dịch: Trần Trọng San)
雲想衣裳花想容,
春風拂檻露華濃。
若非群玉山頭見,
會向瑤臺月下逢。
Vân tưởng y thường hoa tưởng dung,
Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng.
Nhược phi Quần Ngọc sơn đầu kiến,
Hội hướng Dao Đài nguyệt hạ phùng.
Mặt tưởng là hoa, áo ngỡ mây,
Hiên sương phơ phất gió xuân bay.
Nếu không gặp gỡ trên Quần Ngọc,
Dưới nguyệt Dao Đài sẽ gặp ai.
(Năm 743)
Năm Khai Nguyên, Đường Huyền Tông và Dương Quý Phi ở đình Trầm Hương ngắm hoa mẫu đơn, lệnh cho Lý
Bạch làm ba bài "Thanh bình điệu" này. Trong 3 bài này, Lý Bạch có ví Dương Quý Phi với hoa mẫu đơn.
清平調其二
Thanh bình điệu kỳ 2
Khúc hát thanh bình kỳ 2 (Người dịch: Trần Trọng San)
一枝紅艷露凝香,
雲雨巫山枉斷腸。
借問漢宮誰得似,
可憐飛燕倚新粧。
Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương,
Vân vũ Vu sơn uổng đoạn trường.
Tá vấn Hán cung thuỳ đắc tự,
Khả lân Phi Yến ỷ tân trang.
Một nhánh hồng tươi, móc đọng sương,
Mây mưa Vu giúp uổng sầu thương.
Hỏi nơi cung Hán ai người giống ?
Phi Yến còn nhờ mới điểm trang.
(Năm 743)
清平調其三
Thanh bình điệu kỳ 3
Khúc hát thanh bình kỳ 3 (Người dịch: Trần Trọng San)
名花傾國兩相歡,
長得君王帶笑看。
解釋春風無限恨,
沉香亭北倚闌幹。
Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan,
Trường đắc quân vương đới tiếu khan.
Giải thích xuân phong vô hạn hận,
Trầm Hương đình bắc ỷ lan can.
Hoa trời, sắc nước thảy đều vui,
Luôn được vua trông với nụ cười.
Mối hận gió xuân bay thoảng hết,
Bên đình, thơ thẩn tựa hiên chơi.
(Năm 743)
Trương Thái Du dịch thơ
1. Khúc thanh bình
Lý Bạch
Tưởng mây là áo mặt là hoa
Gió xuân sương sớm níu hiên nhà
Nếu chẳng gặp người trên Quần Ngọc
Thì hẹn Dao Đài dưới ánh Nga.
Một đóa hồng tươi, ngát lệ sương
Núi Vu thần nữ uổng buồn vương
Hỏi trong cung Hán ai nào sánh
Thương Triệu ái phi cậy phấn hương.
Người đẹp cùng vui với chúa hoa
Vua ngắm cười hoài, mãi kiêu sa
Khỏa đi muôn hận xuân đưa gió
Tựa song đình bắc thưởng trầm xa.
Dịch năm 1999
Chú thích: Một hôm nhân lúc hoa Thược Dược nở, Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi tụ hội để đàn hát. Lý
Bạch đang say rượu vẫn bị khiêng tới để làm thơ. Trong men nồng, ông múa bút thành bài ca trên. Chính vì
ngầm so sánh Dương Quý Phi với Triệu Phi Yến trong thơ, về sau ông bị thất sủng. Mối giao cảm giữa thi sĩ và
thân phận Triệu Phi Yến hóa ra là ý thức về chính mình của Lý Bạch, ông chẳng khác nào phấn hương của vua
chúa. Quần Ngọc, Dao Đài: nơi ở của Tây vương mẫu, đại khái là thiên đường cực lạc vậy. Vu sơn: Sở Tương
Vương đi chơi ở đất Cao Đường, nằm mộng ái ân với thần nữ núi Vu. Vị thần này sớm làm mây, khuya làm mưa
ở Dương Đài.
Hung trạch Ngôi nhà xúi (Người dịch: Hoàng Tạo)
凶宅
Hung trạch
Ngôi nhà xúi (Người dịch: Hoàng Tạo)
Bạch Cư Dị - 白居易 x
長安多大宅
列在街西東
往往朱門內
房廊相對空
梟鳴松桂枝
狐藏蘭菊叢
蒼苔黃葉地
日暮多旋風
前主為將相
得罪竄巴庸
後主為公卿
寢疾歿其中
連延四五主
殃禍繼相鐘
自從十年來
不利主人翁
風雨壞檐隙
蛇鼠穿牆墉
人疑不敢買
日毀土木功
嗟嗟俗人心
甚矣其愚蒙
旦恐災將至
不思禍所從
我今題此詩
欲悟迷者胸
凡為大官人
年祿多高崇
權重持難久
位高勢易窮
驕者物之盈
老者數之終
四者如寇盜
日夜來相攻
假使居吉土
孰能保其躬
因小以明大
借家可喻邦
周秦宅崤函
其宅非不同
一興八百年
一死望夷宮
寄語家與國
人凶非宅凶
Trường An đa đại trạch
Liệt tại nhai tây đông
Vãng vãng chu môn nội
Phòng lang tương đối không
Kiêu minh tùng quế thụ
Hồ tàng lan cúc tùng
Thương đài hoàng diệp địa
Nhật mộ đa tuyền phong
Tiền chủ vi tương tướng
Đắc tội thoán Ba Dung
Hậu chủ vi công khanh
Tẩm tật một kỳ trung
Liên diên tứ ngũ chủ
Ương họa kế tương chung
Tự tòng thập niên lai
Bất lợi chủ nhân ông
Phong vũ hoại thiềm khích
Xà thử xuyên tưởng dung
Nhân nghi bất cảm mãi
Nhật hủy thổ mộc công
Ta ta tục nhân tâm
Thẫm hỹ kỳ ngu mông
Đãn khủng tai tương chí
Bất tư họa sở tòng
Ngã kim đề thử thì
Dục mộ mê giả dung
Phàm vi đại quan nhân
Niên lộc đa cao sùng
Quyền trọng trì nan cửu
Vị cao thế dị cùng
Kiêu giả vật chi doanh
Lão giả số chi chung
Tứ giả như khấu đạo
Nhật dạ lai tương công
Giả sử cư cát thổ
Thục năng bảo kỳ cung?
Nhân tiểu dĩ minh đại
Tá gia khả dụ bang
Chu, Tần trạch Hào, Hàm
Kỳ trạch phi bất đồng
Nhất hưng bát bách niên
Nhất tử Vọng Di cung
Ký ngữ gia dữ quốc
Nhân hung phi trạch hung.
Trường An nhà lớn rất nhiều,
Đông tây hai dãy dựng đều song song.
Nhiều ngôi cửa rực son hồng,
Phòng, hiên cân đối mà bóng người.
Quế, tùng cú vọ kêu hoài,
Chòm lan, khóm cúc, cáo cầy đào hang.
Đết rêu rải rác lá vàng,
Từng cơn lốc buổi tà dương thổi lồng.
Chủ trước một vị tướng công,
Vì mắc tội, đất Ba Dong đi đày.
Chủ sau, cụ lớn chi đây,
Ốm đau rồi cũng chết ngay trong nhà.
Tiếp liền bốn, năm chủ qua,
Tai ương, họa hoạn đều là không may.
Tính ra từ chục năm nay,
Bao nhiêu ông chủ nhà này đều nguy.
Hiên tàn mưa gió đầm đìa,
Chân tường chuột rắn đi về hốc hang!
Người mua sợ, chẳng dám màng,
Viên gạch, tấm gỗ ngày càng hỏng đi.
Thương thay! Lòng kẻ tục kia,
Thực là mê muội ngu si đến điều!
Chỉ lo tai họa theo sau,
Không suy tai họa từ đâu nó về!
Ta nay có mấy câu đề,
Mở lòng giúp những người mê phần nào:
Phàm các cụ lớn trong trào,
Lộc cao, tuổi tác cũng cao là thường.
Quyền cao thì khó giữ giàng,
Ngôi cao thì thế lại càng dễ nguy.
Kiêu là lẽ vật sắp suy,
Già là số mệnh đến khi hầu cùng!
Bốn cái đó là tứ hung,
Ngày đêm xúm lại tiến công chẳng rời.
Vậy dù nhà tốt mười mươi,
Dễ ai giữ được trọn đời bền a?
Lớn là tự nhỏ suy ra,
Việc nước cũng lấy việc nhà xét xem:
Chu, Tần đều đóng Hào, Hàm,
Nào cung, nào điện nơi làm khác không?
Nhà Chu tám trăm năm ròng,
Nhà Tần đến Vọng Di cung hết đời!
Có nhà, có nước ai ơi!
Nhà không xúi, xúi bởi người mà ra.
- Ẩn dịch nghĩa
Ở Trường An có nhiều nhà lớn
Từng dãy thẳng, đứng hai bên đường
Thường thường bên trong cửa son
Có những phòng hiên đối nhau mà bỏ không
Cú kêu trong cây tùng, cây quế
Cáo ẩn nơi khóm cúc, khóm lan
Mặt đất đầy rêu xanh, lá vàng rải rác
Mỗi buổi chiều tà từng cơn gió lốc thổi
Hung trạch
Ngôi nhà xúi (Người dịch: Hoàng Tạo)
Bạch Cư Dị - 白居易 x
長安多大宅
列在街西東
往往朱門內
房廊相對空
梟鳴松桂枝
狐藏蘭菊叢
蒼苔黃葉地
日暮多旋風
前主為將相
得罪竄巴庸
後主為公卿
寢疾歿其中
連延四五主
殃禍繼相鐘
自從十年來
不利主人翁
風雨壞檐隙
蛇鼠穿牆墉
人疑不敢買
日毀土木功
嗟嗟俗人心
甚矣其愚蒙
旦恐災將至
不思禍所從
我今題此詩
欲悟迷者胸
凡為大官人
年祿多高崇
權重持難久
位高勢易窮
驕者物之盈
老者數之終
四者如寇盜
日夜來相攻
假使居吉土
孰能保其躬
因小以明大
借家可喻邦
周秦宅崤函
其宅非不同
一興八百年
一死望夷宮
寄語家與國
人凶非宅凶
Trường An đa đại trạch
Liệt tại nhai tây đông
Vãng vãng chu môn nội
Phòng lang tương đối không
Kiêu minh tùng quế thụ
Hồ tàng lan cúc tùng
Thương đài hoàng diệp địa
Nhật mộ đa tuyền phong
Tiền chủ vi tương tướng
Đắc tội thoán Ba Dung
Hậu chủ vi công khanh
Tẩm tật một kỳ trung
Liên diên tứ ngũ chủ
Ương họa kế tương chung
Tự tòng thập niên lai
Bất lợi chủ nhân ông
Phong vũ hoại thiềm khích
Xà thử xuyên tưởng dung
Nhân nghi bất cảm mãi
Nhật hủy thổ mộc công
Ta ta tục nhân tâm
Thẫm hỹ kỳ ngu mông
Đãn khủng tai tương chí
Bất tư họa sở tòng
Ngã kim đề thử thì
Dục mộ mê giả dung
Phàm vi đại quan nhân
Niên lộc đa cao sùng
Quyền trọng trì nan cửu
Vị cao thế dị cùng
Kiêu giả vật chi doanh
Lão giả số chi chung
Tứ giả như khấu đạo
Nhật dạ lai tương công
Giả sử cư cát thổ
Thục năng bảo kỳ cung?
Nhân tiểu dĩ minh đại
Tá gia khả dụ bang
Chu, Tần trạch Hào, Hàm
Kỳ trạch phi bất đồng
Nhất hưng bát bách niên
Nhất tử Vọng Di cung
Ký ngữ gia dữ quốc
Nhân hung phi trạch hung.
Trường An nhà lớn rất nhiều,
Đông tây hai dãy dựng đều song song.
Nhiều ngôi cửa rực son hồng,
Phòng, hiên cân đối mà bóng người.
Quế, tùng cú vọ kêu hoài,
Chòm lan, khóm cúc, cáo cầy đào hang.
Đết rêu rải rác lá vàng,
Từng cơn lốc buổi tà dương thổi lồng.
Chủ trước một vị tướng công,
Vì mắc tội, đất Ba Dong đi đày.
Chủ sau, cụ lớn chi đây,
Ốm đau rồi cũng chết ngay trong nhà.
Tiếp liền bốn, năm chủ qua,
Tai ương, họa hoạn đều là không may.
Tính ra từ chục năm nay,
Bao nhiêu ông chủ nhà này đều nguy.
Hiên tàn mưa gió đầm đìa,
Chân tường chuột rắn đi về hốc hang!
Người mua sợ, chẳng dám màng,
Viên gạch, tấm gỗ ngày càng hỏng đi.
Thương thay! Lòng kẻ tục kia,
Thực là mê muội ngu si đến điều!
Chỉ lo tai họa theo sau,
Không suy tai họa từ đâu nó về!
Ta nay có mấy câu đề,
Mở lòng giúp những người mê phần nào:
Phàm các cụ lớn trong trào,
Lộc cao, tuổi tác cũng cao là thường.
Quyền cao thì khó giữ giàng,
Ngôi cao thì thế lại càng dễ nguy.
Kiêu là lẽ vật sắp suy,
Già là số mệnh đến khi hầu cùng!
Bốn cái đó là tứ hung,
Ngày đêm xúm lại tiến công chẳng rời.
Vậy dù nhà tốt mười mươi,
Dễ ai giữ được trọn đời bền a?
Lớn là tự nhỏ suy ra,
Việc nước cũng lấy việc nhà xét xem:
Chu, Tần đều đóng Hào, Hàm,
Nào cung, nào điện nơi làm khác không?
Nhà Chu tám trăm năm ròng,
Nhà Tần đến Vọng Di cung hết đời!
Có nhà, có nước ai ơi!
Nhà không xúi, xúi bởi người mà ra.
- Ẩn dịch nghĩa
Ở Trường An có nhiều nhà lớn
Từng dãy thẳng, đứng hai bên đường
Thường thường bên trong cửa son
Có những phòng hiên đối nhau mà bỏ không
Cú kêu trong cây tùng, cây quế
Cáo ẩn nơi khóm cúc, khóm lan
Mặt đất đầy rêu xanh, lá vàng rải rác
Mỗi buổi chiều tà từng cơn gió lốc thổi
Mẹ và con (Xuân Quỳnh, Việt Nam)
Mẹ và con (Xuân Quỳnh, Việt Nam)
(Viết cho Tuấn Anh)
- Mẹ ơi, bông hoa kia
Là của ai hở mẹ ?
Cái màu xanh trên cửa
Kia nữa là của ai ?
- Của con đấy con ơi
Đều của con tất cả
Cái màu xanh trên cửa
Cái bông hoa cuối vườn
Ông mặt trời chiều hôm
Tiếng chim kêu buổi sáng
Cái mặt ao lẳng lặng
Có con cá đang bơi
Cái dòng sông trôi trôi
Có con thuyền mới đỗ...
Là của con cả đó
Cả mẹ cũng của con.
Con ôm mẹ con hôn:
- Của con sao nhiều thế ?
- Ừ của con nhiều quá
Nhưng mẹ lại nhiều hơn
Vì tất cả của con
Mà con là của mẹ.
30-1-1972
(Viết cho Tuấn Anh)
- Mẹ ơi, bông hoa kia
Là của ai hở mẹ ?
Cái màu xanh trên cửa
Kia nữa là của ai ?
- Của con đấy con ơi
Đều của con tất cả
Cái màu xanh trên cửa
Cái bông hoa cuối vườn
Ông mặt trời chiều hôm
Tiếng chim kêu buổi sáng
Cái mặt ao lẳng lặng
Có con cá đang bơi
Cái dòng sông trôi trôi
Có con thuyền mới đỗ...
Là của con cả đó
Cả mẹ cũng của con.
Con ôm mẹ con hôn:
- Của con sao nhiều thế ?
- Ừ của con nhiều quá
Nhưng mẹ lại nhiều hơn
Vì tất cả của con
Mà con là của mẹ.
30-1-1972
Mẹ của anh (Xuân Quỳnh, Việt Nam)
Mẹ của anh (Xuân Quỳnh, Việt Nam)
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao
Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa
Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau nỗi lo âu nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng
Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắc chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.
Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong
Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen
Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao
Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa
Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà
Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau nỗi lo âu nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng
Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắc chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.
Mẹ sẽ không cô đơn (Phan Vĩnh Hà, Việt Nam)
Mẹ sẽ không cô đơn (Phan Vĩnh Hà, Việt Nam)
Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Bởi trước con anh ấy là của mẹ
Anh có thể yêu con một thời trai trẻ
Nhưng suốt đời yêu mẹ, mẹ ơi!
Mẹ đã sinh ra anh ấy ở trên đời
Hình bóng mẹ lắng vào tim anh ấy
Dẫu bây giờ con được yêu đến vậy
Dù thế nào con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai
Mẹ đừng buồn những hoàng hôn, những sớm mai
Anh có thể nhớ con hơn nhớ mẹ
Con chỉ là một cơn gió nhẹ
Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh
Con chỉ là một cơn mưa mong manh
Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong trái tim anh ấy
Nhưng có một tình yêu trọn đời âm ỉ cháy
Anh ấy chỉ dành riêng cho mẹ mà thôi
Anh ấy có thể đi bên con suốt cả cuộc đời
Nhưng có thể chia tay ngay ngày mai có thể
Vì anh ấy suốt đời yêu mẹ
Dù thế nào con cũng chỉ thứ hai.
Một số nơi ghi nhầm bài thơ này là Người thứ hai của Xuân Quỳnh, nhưng tác giả của bài thơ này là Phan Vĩnh Hà
Mẹ đừng buồn khi anh ấy yêu con
Bởi trước con anh ấy là của mẹ
Anh có thể yêu con một thời trai trẻ
Nhưng suốt đời yêu mẹ, mẹ ơi!
Mẹ đã sinh ra anh ấy ở trên đời
Hình bóng mẹ lắng vào tim anh ấy
Dẫu bây giờ con được yêu đến vậy
Dù thế nào con cũng chỉ là người đàn bà thứ hai
Mẹ đừng buồn những hoàng hôn, những sớm mai
Anh có thể nhớ con hơn nhớ mẹ
Con chỉ là một cơn gió nhẹ
Mẹ luôn là bến bờ thương nhớ của đời anh
Con chỉ là một cơn mưa mong manh
Những người đàn bà khác có thể thay thế con trong trái tim anh ấy
Nhưng có một tình yêu trọn đời âm ỉ cháy
Anh ấy chỉ dành riêng cho mẹ mà thôi
Anh ấy có thể đi bên con suốt cả cuộc đời
Nhưng có thể chia tay ngay ngày mai có thể
Vì anh ấy suốt đời yêu mẹ
Dù thế nào con cũng chỉ thứ hai.
Một số nơi ghi nhầm bài thơ này là Người thứ hai của Xuân Quỳnh, nhưng tác giả của bài thơ này là Phan Vĩnh Hà
Mẹ (Đỗ Trung Quân, Việt Nam)
Mẹ (Đỗ Trung Quân, Việt Nam)
"Xin tặng cho những ai được diễm phúc còn có Mẹ"
Con sẽ không đợi một ngày kia
khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
ai níu nổi thời gian?
ai níu nổi?
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.
Con sẽ không đợi một ngày kia
có người cài cho con lên áo một bông hồng
mới thảng thốt nhận ra mình mất mẹ
mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng
hoa đẹp đấy - cớ sao lòng hoảng sợ?
Ta ra đi mười năm xa vòng tay của mẹ
Sống tự do như một cánh chim bằng
Ta làm thơ cho đời và biết bao người con gái
Có bao giờ thơ cho mẹ ta không?
Những bài thơ chất ngập tâm hồn
đau khổ - chia lìa - buồn vui - hạnh phúc
Có những bàn chân đã giẫm xuống trái tim ta độc ác
mà vẫn cứ đêm về thao thức làm thơ
ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ
giọt nước mắt già nua không ứa nổi
ta mê mải trên bàn chân rong ruổi
mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng
Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân
mấy kẻ đi qua
mấy người dừng lại?
Sao mẹ già ở cách xa đến vậy
trái tim âu lo đã giục giã đi tìm
ta vẫn vô tình
ta vẫn thản nhiên?
Hôm nay...
anh đã bao lần dừng lại trên phố quen
ngã nón đứng chào xe tang qua phố
ai mất mẹ?
sao lòng anh hoảng sợ
tiếng khóc kia bao lâu nữa
của mình?
Bài thơ này xin thắp một bình minh
trên đời mẹ bao năm rồi tăm tối
bài thơ như một nụ hồng
Con cài sẵn cho tháng ngày
sẽ tới !
1986
"Xin tặng cho những ai được diễm phúc còn có Mẹ"
Con sẽ không đợi một ngày kia
khi mẹ mất đi mới giật mình khóc lóc
Những dòng sông trôi đi có trở lại bao giờ?
Con hốt hoảng trước thời gian khắc nghiệt
Chạy điên cuồng qua tuổi mẹ già nua
mỗi ngày qua con lại thấy bơ vơ
ai níu nổi thời gian?
ai níu nổi?
Con mỗi ngày một lớn lên
Mẹ mỗi ngày thêm già cỗi
Cuộc hành trình thầm lặng phía hoàng hôn.
Con sẽ không đợi một ngày kia
có người cài cho con lên áo một bông hồng
mới thảng thốt nhận ra mình mất mẹ
mỗi ngày đi qua đang cài cho con một bông hồng
hoa đẹp đấy - cớ sao lòng hoảng sợ?
Ta ra đi mười năm xa vòng tay của mẹ
Sống tự do như một cánh chim bằng
Ta làm thơ cho đời và biết bao người con gái
Có bao giờ thơ cho mẹ ta không?
Những bài thơ chất ngập tâm hồn
đau khổ - chia lìa - buồn vui - hạnh phúc
Có những bàn chân đã giẫm xuống trái tim ta độc ác
mà vẫn cứ đêm về thao thức làm thơ
ta quên mất thềm xưa dáng mẹ ngồi chờ
giọt nước mắt già nua không ứa nổi
ta mê mải trên bàn chân rong ruổi
mắt mẹ già thầm lặng dõi sau lưng
Khi gai đời đâm ứa máu bàn chân
mấy kẻ đi qua
mấy người dừng lại?
Sao mẹ già ở cách xa đến vậy
trái tim âu lo đã giục giã đi tìm
ta vẫn vô tình
ta vẫn thản nhiên?
Hôm nay...
anh đã bao lần dừng lại trên phố quen
ngã nón đứng chào xe tang qua phố
ai mất mẹ?
sao lòng anh hoảng sợ
tiếng khóc kia bao lâu nữa
của mình?
Bài thơ này xin thắp một bình minh
trên đời mẹ bao năm rồi tăm tối
bài thơ như một nụ hồng
Con cài sẵn cho tháng ngày
sẽ tới !
1986
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong (Xuân Diệu, Việt Nam)
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong (Xuân Diệu, Việt Nam)
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần chữ.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng.
Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang,
Đói bao thuở, cơm chia phần từng bát.
Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát.
Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp Chàm.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm.
Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ,
Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang.
Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa,
Dám gả con cho cách tỉnh, xa đàng.
Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít
Vào giữa mái tranh, giường chõng, cột nhà.
Rứa, mô, chừ? cha hỏi điều muốn biết.
Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha!
Con trong võng êm lành kêu kẽo kẹt
Ru tuổi thơ theo hai điệu bổng trầm.
Mẹ thảnh thót: qua nhớ thương em bậu;
Cha hát dặm bài "Phụ tử tình thâm".
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
Muốn ăn quýt, ăn hồng, theo cha mày
mà về ngoài đó,
Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
Thì theo tao, ở mãi trong này.
*
* *
Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con.
Cảm ơn Thầy vượt đèo Ngang bất kể!
Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ;
Nên máu con chung hòa cả hai miền.
6-1960
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần chữ.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng.
Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang,
Đói bao thuở, cơm chia phần từng bát.
Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát.
Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp Chàm.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm.
Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ,
Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang.
Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa,
Dám gả con cho cách tỉnh, xa đàng.
Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít
Vào giữa mái tranh, giường chõng, cột nhà.
Rứa, mô, chừ? cha hỏi điều muốn biết.
Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha!
Con trong võng êm lành kêu kẽo kẹt
Ru tuổi thơ theo hai điệu bổng trầm.
Mẹ thảnh thót: qua nhớ thương em bậu;
Cha hát dặm bài "Phụ tử tình thâm".
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
Muốn ăn quýt, ăn hồng, theo cha mày
mà về ngoài đó,
Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
Thì theo tao, ở mãi trong này.
*
* *
Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con.
Cảm ơn Thầy vượt đèo Ngang bất kể!
Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ;
Nên máu con chung hòa cả hai miền.
6-1960
Thờ cha mẹ ở hết lòng (Khuyết danh Việt Nam, Việt Nam)
http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=15123
Thờ cha mẹ ở hết lòng (Khuyết danh Việt Nam, Việt Nam)
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ "hiếu" ở trong luân thường.
Chữ "đễ" có nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên.
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.
Thờ cha mẹ ở hết lòng (Khuyết danh Việt Nam, Việt Nam)
Thờ cha mẹ ở hết lòng,
Ấy là chữ "hiếu" ở trong luân thường.
Chữ "đễ" có nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên.
Ghi lòng tạc dạ chớ quên,
Con em phải giữ lấy nền con em.
Ngọt ngào của mẹ
Ngọt ngào của mẹ
Thuỵ Anh
Suốt bấy lâu cứ mê mải thơ tình
Dở dang mãi bài thơ về mẹ
Mẹ ơi, con còn quá trẻ
Để biến những ngọt ngào mẹ cho con thành thơ
Trong tủi hờn con trở lại nơi đây
Về bên Mẹ, nghe lòng mình ấm áp
Cuộn mình như chú mèo ngoan lấm láp
Đời chỉ còn có Mẹ và con
Dịu nỗi buồn, con xuống biển, lên non
Mẹ độ lượng vẫn đợi con ngày tháng
Con bình thản trước mọi điều cay đắng
Chỉ thương những ngọt ngào của Mẹ mà thôi
Ngọt ngào này mẹ hát bên nôi
Bên giấc ngủ của con, bên những bài con học
Con lớn, con vui, con cười, con khóc
Nước mắt cũng ngọt lành khi có Mẹ ở bên
Bây giờ con đôi chút lớn khôn thêm
Hiểu ngọt ngào phải chắt từ mặn đắng
Hiểu thế nào là tình yêu sâu nặng
Của Mẹ đi theo con suốt một đời
Con đi chân cứng, Mẹ ơi
Con sẽ về với những niềm vui nhỏ
Hạnh phúc vô bờ con xin chia sẻ
Bù đắp những ngọt ngào Mẹ tưới đẫm hồn con.
(16-5-1999)
Thuỵ Anh
Suốt bấy lâu cứ mê mải thơ tình
Dở dang mãi bài thơ về mẹ
Mẹ ơi, con còn quá trẻ
Để biến những ngọt ngào mẹ cho con thành thơ
Trong tủi hờn con trở lại nơi đây
Về bên Mẹ, nghe lòng mình ấm áp
Cuộn mình như chú mèo ngoan lấm láp
Đời chỉ còn có Mẹ và con
Dịu nỗi buồn, con xuống biển, lên non
Mẹ độ lượng vẫn đợi con ngày tháng
Con bình thản trước mọi điều cay đắng
Chỉ thương những ngọt ngào của Mẹ mà thôi
Ngọt ngào này mẹ hát bên nôi
Bên giấc ngủ của con, bên những bài con học
Con lớn, con vui, con cười, con khóc
Nước mắt cũng ngọt lành khi có Mẹ ở bên
Bây giờ con đôi chút lớn khôn thêm
Hiểu ngọt ngào phải chắt từ mặn đắng
Hiểu thế nào là tình yêu sâu nặng
Của Mẹ đi theo con suốt một đời
Con đi chân cứng, Mẹ ơi
Con sẽ về với những niềm vui nhỏ
Hạnh phúc vô bờ con xin chia sẻ
Bù đắp những ngọt ngào Mẹ tưới đẫm hồn con.
(16-5-1999)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
