Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2008

Cho phép người Việt Nam có hai quốc tịch

http://vnexpress.net/GL/Phap-luat/2008/12/3BA091B7/


Cho phép người Việt Nam có hai quốc tịch

Từ ngày 1/7/2009, người Việt Nam đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn mong muốn được trở thành công dân Việt Nam sẽ được đáp ứng. Đây là điểm mới trong Luật Quốc tịch vừa được Văn phòng Chủ tịch nước công bố sáng nay.

Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, việc cho phép có 2 quốc tịch không có nghĩa là từ bỏ nguyên tắc một quốc tịch của Việt Nam mà chỉ là sửa đổi nguyên tắc cho mềm dẻo và linh hoạt hơn.

Tuy nhiên, việc 2 quốc tịch chỉ áp dụng với một số ngoại lệ gồm: người được Chủ tịch nước cho phép, trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và đã nhập quốc tịch nước ngoài nhưng vẫn muốn nhập quốc tịch Việt Nam; trẻ em là con nuôi.

Luật Quốc tịch cũng cho phép người có vợ chồng, cha mẹ đẻ, con đẻ là công dân Việt Nam thì được nhập quốc tịch Việt Nam. Chính sách trên cũng được áp dụng với trường hợp có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, hay có lợi cho nhà nước Việt Nam.

Trường hợp nếu không thuộc những diện trên thì công dân nước ngoài, người không quốc tịch đang thường trú ở Việt Nam muốn trở thành công dân Việt Nam phải có các điều kiện sau: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; biết Tiếng Việt để có thể hòa nhập vào cộng đồng; thường trú từ 5 năm trở lên tính đến thời điểm xin nhập quốc tịch, và có khả năng đảm bảo cuộc sống ở Việt Nam...

Luật cũng quy định, người mang quốc tịch Việt Nam phải có tên gọi Việt Nam Người đã mất quốc tịch nay muốn xin quay trở lại thì phải làm đơn và thuộc một trong các diện sau: xin hồi hương về Việt Nam; có vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ là công dân Việt Nam; có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Việc đăng ký giữ quốc tịch cũng được đề cập trong đạo luật trên. Theo đó người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch tính đến trước ngày 1/7/2009 thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Và trong 5 năm kể từ thời điểm trên, họ phải đến đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước nơi người đó định cư để giữ quốc tịch. Nếu không đăng ký thì sẽ mất quốc tịch.

Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường cho biết, quy định trên chủ yếu được áp dụng với các trường hợp người Việt Nam đã định cư ở nước ngoài trước đây. "Còn từ 1/7/2009, người Việt Nam ra định cư, nhập quốc tịch ở nước ngoài đương nhiên mang quốc tịch Việt Nam mà không phải đăng ký. Tuy nhiên, có thực tế rằng không phải nước nào cũng cho phép công dân của họ mang hai quốc tịch", ông Cường chia sẻ.

Luật Quốc tịch với 44 điều được Quốc hội thông qua ngày 13/11 và có hiệu lực từ 1/7/2009. Cũng trong sáng nay, Luật thi hành án dân sự, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt cũng được công bố.

Hoàng Khuê

Khi xuất nhập cảnh, được mang theo bao nhiêu tiền mặt?

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=288481&ChannelID=79


Thứ Ba, 25/11/2008, 20:24 (GMT+7)

Khi xuất nhập cảnh, được mang theo bao nhiêu tiền mặt?

TTO - * Tôi đang làm việc tại Nhật, tết này tôi định về nước. Xin hỏi tôi được mang bao nhiêu tiền về Việt Nam, và mang khoảng bao nhiêu mới phải trình báo hải quan?

(Miyamoto)

- Theo điều 1 của quyết định số 337/1998/QĐ-NHNN ngày 10-10-1998 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc mang ngoại tệ bằng tiền mặt và đồng Việt Nam bằng tiền mặt khi xuất, nhập cảnh (đã được sửa đổi, bổ sung theo quyết định số 921/2005/QĐ-NHNN ngày 27-6-2005 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước), người cư trú, người không cư trú là cá nhân khi xuất cảnh, nhập cảnh qua cửa khẩu Việt Nam có mang theo người ngoại tệ bằng tiền mặt (bao gồm tiền giấy, tiền kim loại và séc du lịch) và đồng Việt Nam bằng tiền mặt trên mức quy định dưới đây thì phải khai báo với hải quan cửa khẩu:

a. 7.000 USD (bảy nghìn đôla Mỹ) hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương.

b. 15.000.000 VNĐ (mười lăm triệu đồng Việt Nam).

Cá nhân mang ngoại tệ bằng tiền mặt và đồng Việt Nam bằng tiền mặt từ mức quy định trên trở xuống thì không phải khai báo hải quan.

Chiếu theo quy định nêu trên, khi về nước bạn có quyền mang ngoại tệ bằng tiền mặt về nước với mức không hạn chế, nhưng khi nhập cảnh vào Việt Nam bạn mang ngoại tệ bằng tiền mặt trên 7.000 USD hoặc các loại ngoại tệ khác có giá trị tương đương thì bắt buộc phải khai báo với hải quan cửa khẩu.

Luật sư TRỊNH VĂN HIỆP

Xuất khẩu lao động gặp khó

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=291161&ChannelID=269


Thứ Sáu, 05/12/2008, 08:02 (GMT+7)

Xuất khẩu lao động gặp khó

* Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân: 80% lao động xuất khẩu VN vi phạm luật pháp, hợp đồng.

TT - Trước ảnh hưởng suy thoái kinh tế toàn cầu, nhiều thị trường xuất khẩu lao động bị cắt giảm nhân công. Trong đó có nhiều thị trường lao động thiếu việc làm vì doanh nghiệp phá sản, một số thị trường khác thì cắt giảm lao động và đi đến ngưng tiếp nhận hoàn toàn lao động VN.

Lao động VN cùng công nhân nước ngoài trên công trường xây dựng tại Qatar -Ảnh: H.V.

Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động cho biết thị trường Qatar đã ngưng việc cấp mới visa cho lao động VN, đồng thời sẽ không gia hạn hợp đồng lao động cho hàng ngàn lao động đang làm việc ở Qatar.

Ông Nguyễn Xuân Vui, tổng giám đốc Công ty Airserco, cho biết thực tế việc ngưng cấp visa cho lao động VN vào Qatar đã có từ sáu tháng trước nhưng đến thời điểm này phía Qatar mới có thông báo chính thức.

Trưởng phòng một doanh nghiệp khác cho hay việc ngưng cấp visa mới cho lao động và không gia hạn cho các lao động đang làm việc tại Qatar do hai nguyên nhân: Thứ nhất, các công trường xây dựng do ảnh hưởng từ suy thoái kinh tế nên thiếu vốn hoạt động và phải cắt giảm nhân công. Thứ hai, do tình hình phức tạp của lao động VN tại Qatar (như trộm cắp, quậy phá, uống rượu...) nên phía bạn ngưng cấp mới visa và không gia hạn hợp đồng cho lao động. Theo vị trưởng phòng này, nhiều doanh nghiệp sắp tới phải đón hàng ngàn lao động từ Qatar về nước khi không được gia hạn thêm hợp đồng.

Tại Đài Loan, ảnh hưởng suy thoái kinh tế cũng làm hàng trăm doanh nghiệp ngưng trệ hoạt động hoặc phá sản khiến nhiều lao động VN đang làm việc ở đây có nguy cơ mất việc, thiếu việc làm.

Theo ông Nguyễn Bá Hải - trưởng Ban quản lý lao động VN tại Đài Loan, do khó khăn chung của các doanh nghiệp, thời gian qua nhiều lao động bị mất giờ làm thêm, thậm chí không đủ việc làm tám giờ/ngày. “Trước tình hình đó chúng tôi đã đề nghị Cục Lao công (Đài Loan) chuyển lao động sang những nơi có đủ việc làm, hạn chế tối đa việc đưa lao động về nước. Đồng thời chúng tôi khuyến cáo các doanh nghiệp nên hạn chế đưa lao động qua trong thời điểm này. Nếu có đơn hàng cần thẩm định thận trọng, chọn những công ty có việc làm ổn định đưa lao động qua để tránh thiệt hại cho người lao động”.

Riêng thị trường Czech, trong tháng mười một vừa qua, đại sứ quán nước này tại VN đã ngưng cấp thị thực nhập cảnh cho công dân VN khiến hàng chục ngàn lao động đang làm thủ tục qua Czech lao động phải lao đao. Giám đốc một công ty xuất khẩu lao động tiết lộ hàng chục doanh nghiệp đã lỡ thu tiền lao động để đóng “phí bôi trơn” làm visa nhưng nay không thể thu hồi được số tiền này và thiệt thòi có thể người lao động gánh hết.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Đào Công Hải - phó cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước - cho biết trong tình hình hiện nay Cục Quản lý lao động ngoài nước chỉ đạo các doanh nghiệp cần hạn chế đưa lao động ồ ạt qua những thị trường đang bị ảnh hưởng nặng từ suy thoái kinh tế. Nếu có các đơn hàng cần thẩm định kỹ càng hơn, thận trọng hơn, nhất là nguy cơ ngưng trệ hoạt động hoặc phá sản của các doanh nghiệp phía bạn để tránh thiệt hại cho người lao động.

HỒ VĂN

80% lao động xuất khẩu VN vi phạm luật pháp, hợp đồng

Đó là phát biểu của Bộ trưởng Bộ Lao động - thương binh & xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân về vấn đề xuất khẩu lao động của VN tại phiên họp ngoại giao kinh tế ngày 4-12.

Nổi cộm trong thời gian gần đây là tình hình lao động xuất khẩu của VN đã được bộ trưởng và các đại biểu tập trung bàn luận. Số lượng lao động xuất khẩu ngày càng tăng. Tuy nhiên, lao động VN tại nước ngoài có nhiều vấn đề cần giải quyết để phá bỏ sự dè dặt của các quốc gia khi tiếp nhận lao động VN.

Tình trạng thiếu kỷ luật của các lao động VN gây ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội nên Qatar đã ngừng gia hạn visa cho lao động VN, trong khi hai bên đã có thỏa thuận đưa 200.000 lao động trong năm 2008 và năm 2010 tiếp 100.000 lao động. Theo bộ trưởng, lao động VN vi phạm quy định, hợp đồng nhiều nhất. Có tới 80% người lao động VN vi phạm luật pháp, quy định hợp đồng.

Bộ trưởng Kim Ngân nhấn mạnh: “Điều quan trọng khi đưa lao động đi xuất khẩu là giáo dục định hướng cho người lao động. Hiện nay thị trường lao động nước ngoài cần tay nghề cao, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật thì cả ba yếu tố đó người lao động VN đều không có. Một gia đình ở Qatar có 3-4 lao động nước ngoài, nhưng chỉ có lao động VN vi phạm”. Có nhiều trường hợp lao động tại các nước Hồi giáo, thanh niên lao động VN lại thường xuyên uống rượu, trong khi luật Hồi giáo cấm uống rượu. Chính điều này gây hình ảnh không tốt của người VN ở nước ngoài.

Theo bộ trưởng, sắp tới Bộ LĐ-TB&XH sẽ hình thành ba trung tâm đào tạo lao động và có hợp tác quốc tế để cấp chứng chỉ, thậm chí là nơi tiếp nhận lao động luôn. Kế hoạch xuất khẩu lao động từ nay đến năm 2020 sẽ có 70-80% lao động qua đào tạo cấp chứng chỉ.

LƯU TÚ ANH

Thịnh vượng là một sự lựa chọn

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=291333&ChannelID=119


Thứ Bảy, 06/12/2008, 07:51 (GMT+7)

Thịnh vượng là một sự lựa chọn

Ông Michael Porter đang thuyết giảng về “cạnh tranh toàn cầu và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam” tại TP.HCM ngày 1-12-2008 - Ảnh: T.T.D.
TTCT - Tại sao một số quốc gia gặp nhiều bất lợi về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên lại có thể phát triển thịnh vượng, trong khi một số quốc gia khác có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi lại tụt hậu? Vì sao một số nước thành công trong khi số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế?

Với cách tiếp cận “từ dưới đi lên”, Michael Porter, người được xem là cha đẻ của chiến lược cạnh tranh, cho rằng trong khi hầu hết tư duy và chính sách đều tập trung vào các điều kiện kinh tế vĩ mô cho tăng trưởng và thịnh vượng thì cần đặt trọng tâm vào những nền tảng kinh tế vi mô. Trong khi chính phủ đóng vai trò trung tâm trong hầu hết các lý thuyết thì ông lại nhấn mạnh đến vai trò của công ty, tức tế bào của nền kinh tế.

Lợi thế cạnh tranh & lợi thế so sánh

Đưa ra lý thuyết về lợi thế cạnh tranh như nguồn gốc của sự giàu có, ông ngầm bác bỏ vai trò của lợi thế so sánh (vốn dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động hay vốn tài chính) vốn đã phổ biến trong tư duy về cạnh tranh quốc tế. Ông cho rằng những yếu tố đầu vào này ngày càng trở nên ít có giá trị trong nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa, nơi mà tất cả đều có thể chuyển dịch. Thay vào đó, sự thịnh vượng phụ thuộc vào việc tạo dựng một môi trường kinh doanh cho phép quốc gia sử dụng hiệu quả và nâng cấp nguồn lực đầu vào của nó.

“Lợi thế cạnh tranh về cơ bản chỉ có thể hình thành và duy trì thông qua cải tiến, đổi mới và thay đổi không ngừng”

MICHAEL PORTER
Theo Michael Porter, mỗi quốc gia luôn có cơ hội để vươn lên thịnh vượng dù kém về tài nguyên, nguồn lực lao động hay vốn liếng. Miễn sao doanh nghiệp của quốc gia đó phải có được sức cạnh tranh. Sự giàu có không hề là một đảm bảo vĩnh viễn, như ông viết: “Nếu không duy trì được lợi thế cạnh tranh, tăng được năng suất thì duy trì mức tiền lương và thu nhập quốc gia còn khó, huống chi là tăng trưởng”.

Năng suất chính là câu trả lời của Michael Porter khi ông giải thích sự thành bại của các quốc gia. Ông viết: “Khái niệm có ý nghĩa duy nhất về sức cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia... Để duy trì được sự tăng trưởng về năng suất đòi hỏi một nền kinh tế phải tự nâng cấp mình liên tục. Các doanh nghiệp trong một quốc gia phải không ngừng cải thiện năng suất bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, bổ sung các tính năng mới, cải tiến công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất”. Một quốc gia dựa vào nguồn lực tài nguyên hay nhân công, trong khi doanh nghiệp thiếu sức cạnh tranh và năng suất thấp thì không thể nào có cơ hội đi đến sự thịnh vượng (bền vững).

Do vậy, theo Michael Porter, thịnh vượng là một sự lựa chọn quốc gia. Giàu có là một sự lựa chọn! Do sức cạnh tranh không còn bị giới hạn trong những quốc gia được hưởng những điều kiện thuận lợi nên các quốc gia có thể chọn lựa sự thịnh vượng nếu họ xây dựng chính sách, luật pháp và thể chế dựa trên năng suất. Họ có thể chọn sự thịnh vượng bằng cách nâng cao năng lực của người dân (thông qua giáo dục), đầu tư vào những cơ sở hạ tầng để nâng cao hiệu quả thương mại.

Các quốc gia cũng có thể chọn sự nghèo đói nếu họ để các chính sách làm xói mòn hiệu suất kinh doanh, nếu họ để cho chỉ có một số ít người được đào tạo kỹ năng. Các quốc gia cũng có thể chọn việc hạn chế sự giàu có của mình nếu thành công trong kinh doanh có được là nhờ mối quan hệ quen biết hay sự nhượng bộ của chính phủ. Michael Porter nhận xét: “Chiến tranh hoặc chính phủ yếu kém có thể làm “trật bánh” sự phát triển, nhưng thường thì nhân dân có thể kiểm soát những điều này”.

Cũng theo Michael Porter, hoạt động quan trọng nhất của chính phủ là tạo ra một môi trường hỗ trợ việc nâng cao năng suất. Chính phủ phải cố gắng cải thiện môi trường kinh doanh theo nhiều cách, tránh xa việc hạn chế cạnh tranh (hay để tình trạng độc quyền) hoặc nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn và môi trường. Bởi lẽ sự “giúp đỡ” kiểu đó thực tế sẽ làm giảm sức cạnh tranh (do ngăn cản sáng tạo và làm chậm quá trình nâng cao năng suất).

Bài học Hàn Quốc

4 thuộc tính

Tại sao một quốc gia gặt hái được thành công quốc tế trong một ngành công nghiệp nhất định (Đức nổi tiếng bởi máy in, xe hơi sang trọng và hóa chất; Thụy Sĩ nổi tiếng với sôcôla, dược phẩm; Thụy Điển nổi tiếng với xe tải hạng nặng và công cụ khai thác mỏ; Mỹ nổi tiếng với máy tính cá nhân, phần mềm, thẻ tín dụng và phim ảnh; Nhật nổi tiếng với đồ điện gia dụng, máy ảnh, robot; Ý nổi tiếng với gạch men, giày trượt tuyết, máy bao bì và thiết bị tự động)? Câu trả lời nằm trong bốn thuộc tính lớn của một quốc gia. Chúng định hình môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm lợi thế cạnh tranh. Đó là:

- Các điều kiện về yếu tố sản xuất (lao động được đào tạo, cơ sở hạ tầng...)
- Các điều kiện cầu (đặc tính của cầu trong nước)
- Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan
- Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa

Cách tương tác của các thuộc tính này quyết định sức cạnh tranh của quốc gia.
Trong số các nước khảo sát (Đan Mạch, Đức, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Singapore, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ), Michael Porter cho rằng Hàn Quốc (nước mà cách đây chưa lâu trong lịch sử còn xấp xỉ Việt Nam về nhiều mặt) có triển vọng lớn nhất để đạt đến địa vị tiên tiến thật sự trong vòng một thập niên nữa.

Hàn Quốc là một quốc gia không có tài nguyên đáng kể về hầu hết khoáng sản, năng lượng hoặc gỗ. Do địa thế núi đồi, Hàn Quốc thiếu cả đất trồng trọt. Gần như tất cả các ngành có sức cạnh tranh của Hàn Quốc đều phụ thuộc nặng nề vào nguồn nguyên liệu thô từ nước ngoài. Nhưng ngược lại với nguồn tài nguyên nghèo nàn là một nguồn nhân lực rất dồi dào: lực lượng lao động hơn 17 triệu người, giá nhân công tương đối thấp, người lao động hết sức kỷ luật và chăm chỉ, có trình độ giáo dục trung bình cao. Một tàu chở dầu phải 30 tháng mới hoàn thành thì các phân xưởng Hàn Quốc đóng xong trong 18 tháng.

Chỉ trong vòng hai thập niên, nước này đã nhanh chóng nâng cấp lợi thế cạnh tranh của mình và đang tiếp tục có tốc độ tăng trưởng cao về năng suất cũng như thu nhập bình quân đầu người.

Nghiên cứu sự thành công trong cạnh tranh của Hàn Quốc, Michael Porter cho rằng điều quan trọng nhất là sự cam kết của người dân Hàn Quốc đối với giáo dục. Ông viết: “Đây là cam kết mạnh mẽ nhất mà tôi từng thấy trong tất cả các quốc gia mà chúng tôi đã nghiên cứu. Đó là ưu tiên hàng đầu của tất cả các phụ huynh Hàn Quốc”.

Với 300.000-400.000 sinh viên vào đại học mỗi năm, hệ thống đại học của Hàn Quốc đầu tư mạnh mẽ vào ngành kỹ thuật (100 đại học kỹ thuật và hơn 100 đại học cao đẳng chính quy). Điều này khiến Hàn Quốc khác xa hầu hết các nước đang phát triển khác. Đó là chưa kể số lượng lớn sinh viên được đào tạo ở nước ngoài (Hàn Quốc dẫn đầu 10 quốc gia khảo sát về số lượng sinh viên và người học sau đại học tại Mỹ).

Chính phủ và các công ty Hàn Quốc đã tài trợ hào phóng cho việc học tập. Chi tiêu cho giáo dục chiếm đến 20,8% tổng ngân sách của Chính phủ Hàn Quốc năm 1987. Luật pháp nước này còn quy định các công ty lớn đến một mức độ nhất định phải cung cấp hoạt động đào tạo cho nhân viên. Việc đầu tư 25-30 triệu USD cho hoạt động đào tạo là rất phổ biến đối với các công ty lớn của Hàn Quốc. Sự cố gắng theo đuổi học tập mở rộng đến cả các lãnh đạo cấp cao. Nhiều giám đốc cấp cao của Hàn Quốc có học vị tiến sĩ trong các lĩnh vực kỹ thuật. Những người có bằng tiến sĩ từ một trường đại học hàng đầu của Mỹ luôn có một địa vị quan trọng.

Bên cạnh đó, các công ty lớn Hàn Quốc đầu tư rất nhiều để nâng cấp khả năng kỹ thuật. Chỉ tiêu cho nghiên cứu và phát triển (R&D) ở mức cao so với doanh thu là hiện tượng phổ biến.

ANH VIỆT

Chống suy giảm kinh tế

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=291335&ChannelID=119


Thứ Bảy, 06/12/2008, 08:28 (GMT+7)

Chống suy giảm kinh tế

Biếm họa trong tuần
TTCT - Phiên họp Chính phủ đầu tuần này đã xác định nền kinh tế đất nước đang suy giảm, tốc độ tăng trưởng chậm lại. Ý kiến của các chuyên gia kinh tế về những giải pháp cấp bách để ngăn chặn đà suy giảm này.

Viện trưởng Viện Kinh tế VN TRẦN ĐÌNH THIÊN:

Không nên chỉ “kích” vào doanh nghiệp nhà nước

* Thưa ông, Chính phủ đã xác định năm nhóm giải pháp trọng tâm để ngăn chặn suy giảm kinh tế, trong đó có việc đẩy mạnh kích cầu đầu tư và tiêu dùng. Dự kiến Chính phủ sẽ dành khoảng 1 tỉ USD cho giải pháp này. Ông nghĩ sao?

Những dấu hiệu của suy giảm kinh tế

- Năm tháng liên tiếp kể từ tháng 7-2008, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bị giảm sút. Khó khăn trong sản xuất công nghiệp hiện nay là thiếu vốn và tiêu thụ sản phẩm. Nhiều mặt hàng vật tư quan trọng bị tồn đọng lớn như sắt, thép, ximăng, phân bón... Ngành xây dựng cũng liên tục tăng trưởng âm trong nhiều tháng qua và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi.

- Trong nước, giá lương thực và hầu hết nông sản đều giảm 30-50%, tiêu thụ gặp rất nhiều khó khăn.

- Về du lịch, lượng khách quốc tế đến VN trong tháng 11 ước đạt 310.000 lượt người, giảm 6% so với cùng kỳ năm trước... Công suất sử dụng phòng khách sạn cao cấp giảm còn 50-60% (trước đây tỉ lệ này là 90-95%).

- Kim ngạch xuất khẩu liên tục giảm trong những tháng gần đây, tháng 11 ước đạt 4,8 tỉ USD, giảm 4,8% so với tháng 10-2008. Xuất khẩu gặp nhiều khó khăn cả về thị trường và giá xuất khẩu giảm. So với thời điểm giá lên cao nhất, hiện nay giá gạo chỉ còn bằng khoảng 1/3, giá các loại nông sản khác giảm 30-50%, nhiều đơn hàng xuất khẩu vào Mỹ, EU, Nhật như: dệt may, hạt tiêu, hạt điều, đồ gỗ... đều giảm 20-30%. Hàng thủy sản xuất khẩu vào Nga lại ứ đọng do không có khả năng thanh toán. Nhiều hợp đồng xuất khẩu bị hoãn hoặc phải lùi thời gian sang năm sau. Việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu mới gặp nhiều khó khăn.

- Thị trường chứng khoán tiếp tục giảm xuống mức thấp nhất trong vòng hai năm qua, chỉ số VN-Index đang dao động trong khoảng trên 300 điểm.
- Chúng ta cần những giải pháp kích cầu mới, không mang tính bao cấp, không nên chỉ “kích” vào những doanh nghiệp nhà nước. Các gói tiền đi theo giải pháp kích cầu phải đặt ra những điều kiện về hiệu quả cụ thể chứ không thể vô điều kiện. Chính phủ nên kích cầu để giải quyết những điểm ách tắc mà lâu nay làm mãi không xong. Như thế vừa kích thích được nhu cầu vừa giải quyết được nút thắt của nền kinh tế. Điều này chỉ có thể thành công khi kích cầu công khai, có hiệu quả.

Về các biện pháp cứu doanh nghiệp, theo tôi, không nên chỉ dừng ở cung cấp tín dụng mà cần mang tính “mồi”. Ví dụ tạo hạ tầng tốt, tạo các khu công nghiệp, nhà xưởng để doanh nghiệp đến sản xuất đôi khi còn tốt hơn cho họ vay tiền, tự làm họ phải đối diện với rất nhiều khó khăn về thủ tục xin đất, thuê đất, đăng ký vào khu công nghiệp...

* Chính phủ đã giao Bộ Tài chính nhanh chóng đề xuất các loại thuế có thể được miễn, giảm, giãn để tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh?

- Giảm thuế cho đồng bào khó khăn, bớt gánh nặng cho người lao động là nên làm. Nhưng giảm thuế cho doanh nghiệp thì phải cân nhắc. Thực chất giảm thuế là biện pháp kích thích giảm giá, tăng sản xuất. Nhưng kinh nghiệm cho thấy giảm thuế không trực tiếp dẫn đến giảm giá. Giảm thuế nghĩa là cung cấp lợi ích cho doanh nghiệp, lợi ích đó có thành lợi ích cho xã hội không chúng ta còn phải chờ.

* Vậy trong bối cảnh hiện nay, theo ông, việc cần làm nhất là gì để chống suy giảm kinh tế?

- Là cải cách, tháo gỡ các nút thắt của nền kinh tế. Bên cạnh đó, bài học khi khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1998 diễn ra, chúng ta đã cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước. Lần này cũng là cơ hội để đánh giá hiệu quả, tìm ra những điểm yếu để chấn chỉnh, lành mạnh hóa hoạt động của các tập đoàn, tổng công ty lớn.

* Hiện nay đang có tâm lý tìm mọi cách hút FDI như một lối ra cho khó khăn?

- FDI có thể giúp gỡ bỏ những khó khăn trước mắt về nguồn vốn, về việc làm nhưng bên cạnh dòng FDI tốt, có những dự án FDI xấu.

FDI vào VN có nhiều loại, thường chúng ta có thể biết đích của nó là nhằm vào cái gì, như giá nhân công rẻ, như nhằm vào thị trường trên 80 triệu dân nhưng cũng có dự án khổng lồ như thép, có thể họ tận dụng môi trường pháp lý của VN để tận dụng năng lượng điện giá rẻ, thậm chí cả cơ hội phát thải chất độc hại với chi phí thấp.

Vì vậy, FDI nói chung đều cần cân nhắc và lựa chọn, nếu không nó có thể khiến sự phát triển chậm lại, thậm chí gây thiệt hại. Bởi trong khi năng lực cung ứng điện, nguyên liệu, phụ tùng, hạ tầng còn thiếu, hàng loạt dự án FDI vào tranh điện, tranh tài nguyên, gây ô nhiễm thì hoạt động của những dự án này sẽ làm đình trệ hàng loạt nhà máy đang hoạt động hiệu quả khác. Thêm một anh có thể tăng một ít thuế, một ít việc làm nhưng lại khiến cả trăm anh khác ngưng trệ thì thiệt nhiều hơn lợi.

Chúng ta cần những dự án vừa phải nhưng tạo được sự liên kết với các doanh nghiệp trong nước, giúp doanh nghiệp trong nước phát triển công nghiệp phụ trợ, hội nhập hơn là những dự án nhiều tiền nhưng chiếm quá nhiều đất, gây ô nhiễm và vấn nạn môi trường lâu dài. Chỉ khi FDI vừa phát huy được sản xuất trong nước, phát huy được ưu thế của công nghệ nước ngoài, kéo doanh nghiệp trong nước lên, khi đó cơ hội của nhà đầu tư nước ngoài cũng là cơ hội của VN, hai bên đều có lợi, không phải là chụp giật. Chúng ta cần cân nhắc kỹ lợi hại từng dự án. Không nên cấp phép theo tư duy vốn càng cao, càng ưu tiên.

Chuyên gia tài chính BÙI KIẾN THÀNH:

Giảm lãi suất để hỗ trợ xuất khẩu

Mặc dù trong năm 2009 tổng thống mới của Mỹ sẽ vào cuộc với nhiều gương mặt sáng giá trong “đội hình” kinh tế, tuy nhiên suy thoái kinh tế Mỹ sẽ khó phục hồi nhanh, ít nhất là trong năm 2009. Vì bên cạnh Mỹ thì EU và một số nền kinh tế hàng đầu tại châu Á như Nhật Bản, Hong Kong, Singapore đều chính thức tuyên bố rơi vào suy thoái khi tăng trưởng âm liên tục trong hai quý gần đây. Hiện nay xuất khẩu vào Mỹ chiếm tới 24% tổng sản lượng xuất khẩu của VN, khi người dân Mỹ tiếp tục thắt chặt tiêu dùng thì kim ngạch xuất khẩu, thâm hụt thương mại của nước ta sẽ trầm trọng hơn. Xuất khẩu bị tác động mạnh, các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn, muốn tăng khả năng cạnh tranh thì họ cần được hỗ trợ đầy đủ và kịp thời. Đây là lúc các bộ ngành và hiệp hội phải ngồi lại để bàn bạc, mổ xẻ kỹ những giải pháp để hỗ trợ xuất khẩu.

“Đường sá ta chỉ có thế, điện chỉ có thế mà tiếp nhận những dự án thép khổng lồ, một dự án có thể tiêu thụ điện bằng cả một tỉnh thì hại có thể nhiều hơn lợi”

Ông TRẦN ĐÌNH THIÊN
Một trong những giải pháp quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu là giảm lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp. Vừa qua Ngân hàng Nhà nước đã liên tục điều chỉnh lãi suất cơ bản, tuy nhiên theo tôi, như vậy vẫn chưa đáp ứng được, vì lãi suất cơ bản của VN hiện nay (10%) vẫn cao hơn nhiều nước như Mỹ là 1%, EU 3%, Nhật 0,3%, Trung Quốc 6,6%... Lãi suất cho vay ở VN hiện nay phổ biến khoảng 14%, trong khi đó lãi suất cho vay trên thị trường tài chính quốc tế khoảng 5-6%, như vậy rõ ràng các doanh nghiệp xuất khẩu của VN gặp bất lợi hơn khi cạnh tranh.

Về chính sách thuế, bên cạnh việc dự kiến giảm, giãn và hoãn thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, Chính phủ nên nghiên cứu giảm thuế giá trị gia tăng vì đây là biện pháp kích cầu khá hữu hiệu. Một vấn đề rất đặc thù VN nữa là Chính phủ cần thúc đẩy cải cách hành chính để doanh nghiệp và người dân giảm được chi phí quan hệ, chi phí từ sự nhũng nhiễu.

TS NGUYỄN MINH PHONG, Viện Phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội:

Kích cầu không có nghĩa là đầu tư tùy tiện

Trong số các nhiệm vụ đặt ra cho năm 2009, kích cầu đầu tư và tiêu dùng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội. Để giải quyết hiệu quả nhiệm vụ này cần chú ý các điểm sau:

Thứ nhất, thực hiện kích cầu đầu tư không có nghĩa là đầu tư tùy tiện, bất chấp hiệu quả mà cần tập trung đầu tư cho các dự án sắp hoàn thành, đưa nhanh vào sử dụng các dự án có dung lượng và triển vọng thị trường tiêu thụ tốt, các dự án góp phần trực tiếp duy trì và mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh cần thiết của doanh nghiệp và nền kinh tế, các dự án thúc đẩy chuyển dịch và cải thiện cơ cấu, sức cạnh tranh kinh tế theo hướng phát triển bền vững... Ưu tiên các dự án có tính thúc đẩy phát triển liên ngành cao hoặc tạo thị trường tiêu thụ tiềm năng, nhất là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các dự án có ý nghĩa tổng hợp cả kinh tế - xã hội và môi trường...

Theo tinh thần đó, cần đặc biệt khuyến khích các dự án phát triển nhà ở dành cho người thu nhập thấp, cải thiện căn bản quỹ nhà ở xã hội. Cần đột phá về nhận thức và tổ chức để có thể biến các thách thức, khó khăn kinh tế năm 2009 thành cơ hội và là năm đánh dấu bước ngoặt trong phát triển thị trường nhà ở xã hội nói riêng, cải thiện căn bản an sinh và bình đẳng xã hội về nhà ở nói chung của VN...

Thứ hai, để kích cầu tiêu dùng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như: giảm mạnh giá hàng tiêu dùng, điều chỉnh tăng lương, giảm thuế thu nhập cá nhân và doanh nghiệp, tăng cho vay tiêu dùng. Đồng thời thực hiện giãn, khoanh nợ và tăng các hỗ trợ an sinh xã hội, nhất là trợ cấp trực tiếp cho người nghèo, mở rộng bảo hiểm thất nghiệp, giảm học phí, viện phí. Khuyến khích các hoạt động đào tạo chuyển đổi nghề và triển khai các chương trình tạo việc làm mới trong xã hội từ các quỹ phù hợp. Quan tâm hỗ trợ hợp lý, trực tiếp cho người nghèo, người có thu nhập thấp bị ảnh hưởng nhiều khi Nhà nước điều chỉnh tăng giá...

Thứ ba, cần thực hiện hiệu quả các giải pháp hỗ trợ kích cầu đầu tư và tiêu dùng như: theo dõi chặt chẽ, nâng cao chất lượng phân tích, dự báo tình hình trong nước và quốc tế, đặc biệt là những biến động về tình hình kinh tế, tài chính thế giới, chủ động xây dựng các phương án ứng phó, hạn chế tác động bất lợi của khủng hoảng từ bên ngoài đến hệ thống tài chính, ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. Linh hoạt trong điều hành lãi suất và tỉ giá, chủ động kiểm soát mức tăng tổng phương tiện thanh toán, dư nợ tín dụng và cơ cấu tín dụng phù hợp để tạo điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh.

Kiểm soát chặt chẽ và nâng cao hiệu quả chi tiêu công ngay từ việc duyệt kế hoạch đầu tư năm 2009, triệt để tiết kiệm chi. Hoàn thiện khung pháp luật về hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, nhất là hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước về xây dựng, đấu thầu, đất đai, ngân sách nhà nước. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo ra bước tiến mới về chất trong chống tham nhũng, trong đó có tham nhũng trong công tác cán bộ.

CẦM VĂN KÌNH - VÕ VĂN THÀNH thực hiện

Ảnh hưởng của khủng hoảng Mỹ đối với Việt Nam

Những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đến VN đang và sẽ lớn hơn so với một số nhận định chủ quan đã đưa ra...

1. Cuộc khủng hoảng trực tiếp làm giảm sút nguồn thu ngoại tệ do khả năng suy giảm xuất khẩu hàng VN vào thị trường Mỹ. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của VN trong tháng 9-2008 giảm khoảng 100 triệu USD so với tháng 8-2008, từ 920 triệu USD xuống còn 820 triệu USD, mặc dù năm nay VN đã vượt Ấn Độ để trở thành nhà xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Trung Quốc.

2. Cuộc khủng hoảng làm giảm sút mạnh nguồn kiều hối từ Mỹ và cả từ các nước khác có chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi cuộc khủng hoảng này, do thu nhập của cộng đồng người VN tại Mỹ và các nước đó bị giảm sút.

3. Khi đồng USD mất giá thì sự tác động tiêu cực đến đồng tiền VN có thể sẽ đến cả từ hai phía gắn với một trong hai khả năng sau: một mặt, VND sẽ bị lên giá so với USD, nếu VN chủ trương giữ vững sự ổn định tỉ giá chính thức của đồng tiền VN trong tương quan với USD. Khi đó, hàng xuất khẩu VN càng trở nên đắt đỏ và khó cạnh tranh hơn trên thị trường Mỹ, đồng nghĩa với sự sụt giảm tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu và tăng thâm hụt thương mại với các hệ lụy khác kèm theo...

Ngược lại, VND sẽ tăng nguy cơ mất giá theo đồng USD, nếu VN chủ trương điều chỉnh tỉ giá danh nghĩa của VND một cách mềm dẻo theo yêu cầu và tín hiệu thị trường cùng với tốc độ mất giá của USD. Khi đó, áp lực phá giá VND sẽ gia tăng, đồng nghĩa với gia tăng sức ép lạm phát trong nước - điều khá nhạy cảm trong bối cảnh hiện tại của nước ta.

4. Dòng FDI đăng ký và thực hiện ở VN trong thời gian tới có thể sẽ ít hơn dự liệu và so với xu thế năm 2008, do các nhà đầu tư nước ngoài gặp những khó khăn về tài chính, thị trường sẽ thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định đầu tư mới, hoặc giải ngân, mở rộng các khoản đầu tư đang triển khai.

5. Cuộc khủng hoảng gây tác động đến thị trường chứng khoán ở ba khía cạnh: gây tâm lý lo ngại chung, làm giảm dòng vốn nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp VN - đang hoặc sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán - gặp khó khăn trong kinh doanh, làm giảm sút lợi nhuận, kéo theo giảm sút thị giá chứng khoán của mình, tức giảm sức hấp dẫn của thị trường chứng khoán với các nhà đầu tư...

TS NGUYỄN MINH PHONG - DƯƠNG QUỲNH CHI

“Bác sĩ tử thần” bị dẫn độ sang Úc

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=269820&ChannelID=2


Thứ Hai, 21/07/2008, 22:27 (GMT+7)

“Bác sĩ tử thần” bị dẫn độ sang Úc

Jayant Patel đã không chống lại yêu cầu dẫn độ - Ảnh: AP
TTO - Jayant Patel, biệt danh “bác sĩ tử thần”, ngày 21-7 đã bị dẫn độ từ Mỹ sang Úc để hầu tòa do bị tình nghi có liên quan đến cái chết của 17 bệnh nhân do ông ta chữa trị.

Patel, mang hai quốc tịch Mỹ - Ấn Độ, từng làm việc tại Úc, bị cáo buộc ngộ sát, gây tổn thương trầm trọng đến người khác, cẩu thả và lừa gạt. Trước đó, ông ta bác bỏ mọi cáo buộc và nói mình vô tội.

Người nhà các bệnh nhân cũ của Patel nói họ cảm thấy được an ủi khi ông ta bị dẫn độ sang Úc. Để đạt được điều này, một số người đã phải vận động suốt 3 năm. “Tôi rất sợ, nhưng tôi rất phấn khích… Cuối cùng ông ta đã ở đây”, Judy Kemps, chồng một bệnh nhân cũ của Patel và đã qua đời sau một ca phẫu thuật vào năm 2004, nói.

Chuyến trở lại Úc của Patel đã được báo chí nước này loan tin rộng rãi, với nhiều xe và trực thăng hộ tống ông ta từ sân bay đến nhà giam ở Brisbane. Patel sau đó đã nộp 20.000 đôla Úc (19.500 USD) để được tại ngoại, tuy nhiên bị buộc phải sống ở một nơi được chỉ định, giao nộp hộ chiếu và phải trình diện cảnh sát 3 lần/1 tuần.

Các tội danh mà Patel đối mặt liên quan đến công việc của ông khi làm bác sĩ phẫu thuật tại một bệnh viện ở Queensland từ đầu năm 2003 đến đầu năm 2005. Patel bị cáo buộc có liên quan trực tiếp đến cái chết của 13 bệnh nhân và góp phần dẫn đến cái chết của 4 bệnh nhân khác do chuyên môn kém.

MINH ANH (Theo BBC

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2008

Quế Minh - 12 “đô” và 200 “đô”...






http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=288024&ChannelID=89


Chủ Nhật, 16/11/2008, 01:10 (GMT+7)

Quế Minh - 12 “đô” và 200 “đô”...




TT - Theo cái cách tính GDP đầu người quy ra đôla, tôi mạo muội đặt cái tít như vậy về cái xã nghèo nhất nước mà Tuổi Trẻ từng đề cập.

Đường vào xã Quế Minh -Ảnh: L.Đ.D.

Mười năm trước, năm 1998, tôi về xã Quế Minh, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam để viết phóng sự Sống chỉ với 150.000 đồng một năm! Bài báo đăng lên nhiều người không tin làm sao số tiền ấy đủ cho một người sống trong... một năm!

Chỉ bằng số tiền đi chợ mua thức ăn của một gia đình bình thường trong một ngày, nhưng con số ấy tôi trích dẫn từ báo cáo tổng kết của xã, có chứng cứ cụ thể hẳn hoi.

Nụ cười chưa trọn

Nghèo có tiếng

Tôi biết đến xã nghèo này nhờ bài phỏng vấn ông Nguyễn Công Tạn khi ông vừa nhậm chức bộ trưởng Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn (khi ấy mới nhập ba bộ nông nghiệp - thủy lợi - lâm nghiệp lại làm một), rằng “làm bộ trưởng như vậy ông biết xã nào nghèo nhất Việt Nam?”, ông Tạn nói ông không biết xã nào nghèo nhất nhưng ở xã Quế Minh (huyện Quế Sơn, Quảng Nam) thu nhập bình quân đầu người chỉ được 100.000 đồng/năm. Không năm nào dân ở đó no, không ai dám vay tiền ngân hàng vì không có gì để trả. Nguyên tổng bí thư Đỗ Mười, ông Trần Đức Lương khi đang làm phó thủ tướng, đều đã về Quế Minh và đều tìm cách giúp Quế Minh thoát nghèo.
Mười năm sau tôi quay lại Quế Minh. Câu hỏi đầu tiên của tôi với anh Nguyễn Phước Phẩm, chủ tịch xã, là: “Bữa nay bình quân mỗi năm được mấy triệu đồng hả anh?”. Anh Phẩm đưa cho tôi cái báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của xã: “Khoảng ba triệu rưỡi, tương đương 200 đô”. Tôi cười: “Hồi 1998 mới chỉ có 150.000 đồng, tương đương 12 “đô” tỉ giá hồi đó. Vậy là mười năm Quế Minh tăng tốc lên 16 lần”. Như thế tính ra mức sống người dân đã gấp nhiều lần của mười năm trước. Nhưng dẫu phát triển lên 16 lần thì những gì tôi nhìn thấy ở Quế Minh hình như vẫn chưa thoát khỏi vị trí “nghèo nhất nước”, dù Quế Minh chỉ cách huyện lỵ 3km, cách quốc lộ 1A hơn 10km.

Hồi năm 1998 lần đầu về Quế Minh, người dẫn đường cho tôi là anh Nguyễn Phước Phẩm, chủ tịch HĐND xã. Ngày ấy anh dẫn tôi đi thăm những người nghèo nhất xã của “xã nghèo nhất nước”. Tôi đã gặp chị Võ Thị Quyến, anh Nguyễn Phước Minh..., những “điển hình” về sự nghèo, nghèo mà không biết vì sao mình nghèo! Như chị Quyến, anh Minh ngày nào cũng quần quật tinh mơ đã ra đồng, trưa, tối về lại ôm lấy khung chằm nón, không dư dả một giây thời gian nào mà cứ nghèo, triền miên nghèo!

Mười năm sau trở lại vẫn anh Phẩm dẫn đường đưa tôi đi, nhưng nay anh đã là chủ tịch UBND xã.

Mười năm trước hỏi ao ước của dân Quế Minh, anh Phẩm bảo: dân quê tui muốn xem một trận bóng đá phải đi bộ hơn 3km qua thị trấn Đồng Phú để coi. Nay thì Quế Minh đã có điện về. Cái ao ước “tivi” không còn đau đáu nữa!

Mười năm trước, dẫn tôi đi qua những cánh đồng khô khát nứt nẻ anh Phẩm bảo: dân Quế Minh chỉ trông chờ vào nguồn nước thủy lợi từ đập Việt An được xây dựng ở huyện Hiệp Đức. Khi đập hoàn thành sẽ tưới cho 2.000ha ruộng của hai huyện Hiệp Đức và Quế Sơn, trong đó có 230ha của xã Quế Minh. Mãi đến cuối năm 2000 thì mấy trăm hecta ruộng hạn của Quế Minh có được nước tưới. Có nước rồi nhưng đất ruộng không màu mỡ, phân tro hết cỡ năng suất cũng không vượt được 4 tấn/ha trong khi các nơi người ta đạt 9-10 tấn/ha.

Theo công thức “điện - đường - trường - trạm” mà tính thì Quế Minh mới được hai vế “điện” và “trạm”.

Khi từ ngoài thị trấn vào Quế Minh, tôi đã khấp khởi mừng khi con đường bêtông khá rộng chạy dài hơn 1km từ đó vào tận cầu tràn sông Ly. Con đường được gắn biển chào mừng nhân một đại hội rất hoành tráng. Nhưng qua khỏi cầu tràn sông Ly để vào xã thì vẫn con đường đất trơn trượt dài hơn 3km nhão nhoẹt bùn đất sau trận mưa. Và Quế Minh của mười năm trước vẫn chưa khác mấy so với bây giờ, nhất là những phận người mà tôi đã gặp.

Anh Nguyễn Phước Hường và tiệm photocopy - loại máy móc “hiện đại” nhất xã! - Ảnh: K.Di

Đói nghèo - có là định mệnh?

Anh Phẩm dẫn tôi về nhà chị Quyến. Chị vẫn ở trên nền đất cũ, ngôi lều xưa nay được thay bằng một ngôi nhà xây nhỉnh hơn chục mét vuông, mái lợp tôn từ tiền quỹ hỗ trợ người nghèo của huyện. Nhà xây nhưng không đủ tiền, đóng bộ cửa phải dùng hai tấm cót ép buộc vào. Có thêm một con bò cột sau chuồng cũng là bò “dự án”, nuôi cho bò đẻ thì mình được hưởng con bê, trả lại bò để “dự án” cho người khác vay nuôi. Trong nhà có hai cái chum bằng ximăng đựng lúa nhưng gõ vào thành chum nghe tiếng vang, chứng tỏ chum hết thóc.

Hồi 1998 tôi về nhà chị Quyến có duy nhất một cái nồi, nấu cơm xong thì dùng nấu canh, nấu canh xong dùng nấu nước uống. Bây giờ tôi vào bếp đếm kỹ thấy đã có đến hai cái xoong và một ấm nhôm sứt quai dùng nấu nước! Cơ nghiệp chị Quyến chỉ có vậy. Bé Phước, đứa con đầu hồi tôi về mới 14 tuổi, nay đã lấy chồng.Cu Khoa, hồi đó 7 tuổi học lớp 1, suýt nghỉ học vì không có 16.000 đồng nộp “quỹ học đường”. Khi tôi biếu chị tờ 50.000 đồng nộp cho trường, chị Quyến đã không biết đó là mấy nghìn vì lần đầu thấy tờ bạc mệnh giá to như vậy. Bây giờ sau mười năm Khoa đã 17 tuổi, cũng đã thôi học đi làm phụ hồ. Và chị Quyến vẫn còng lưng với cái khung chằm nón, vẫn lấy công làm lãi với vài ngàn đồng mỗi ngày sau khi trừ đi tiền lá, tiền cước, tiền nan tre...

Mười năm, tôi nhớ mãi cái lần đi công tác ở Nông Sơn, ghé ngang Quế Minh thăm anh Nguyễn Phước Thơ, chủ tịch xã. Buổi trưa nắng, anh dắt tôi và một đồng nghiệp ra quán trước trụ sở xã. Đã nhất quyết chỉ uống một ly rượu trắng mừng gặp nhau thôi, nhưng anh Thơ bảo uống bia cho mát, và chủ quán lôi hết “sản lượng bia” của quán ra chỉ có đúng... năm chai bia phủ đầy bụi bặm với ba nhãn hiệu bia khác nhau mà hình như hết hạn sử dụng từ lâu!

Mười năm, chỗ cái quán cũ bây giờ có một cơ sở “hiện đại” nhất xã. Đấy là quán photocopy kiêm quầy tạp hóa của anh Nguyễn Phước Hường. Anh Hường bị liệt vì tai nạn, đi lại bằng xe lăn, gom góp vay mượn mua cái máy photocopy và mở quầy tạp hóa mưu sinh độ nhật. Hình như đấy là cái máy “hiện đại” duy nhất trong xã. Văn bản, tài liệu gì cũng đưa ra đấy photo.

Cái sự nghèo của Quế Minh cũng kỳ lạ. Tôi đi rất nhiều nhà, ở đây ai cũng siêng năng quần quật, ai cũng lam lũ tảo tần mà sao nghèo hoài nghèo mãi. Cho dù báo cáo của UBND xã cho biết thu nhập bình quân đầu người đã đạt ba triệu rưỡi đồng một năm đi nữa, tôi vẫn không thể hình dung nổi Quế Minh đã vượt mức 16 lần so với mười năm trước.

Khi dắt bộ xe máy ngược ra đường ĐT611 xuôi về quốc lộ 1, nhìn trục đường chính qua trung tâm xã ngập ngụa ổ trâu , lấm lem bùn đất, tôi càng nghĩ là đường tới sự giàu có ấm no cho Quế Minh cũng gian nan không kém, dù từ đây về quốc lộ 1 xuyên Việt chỉ hơn 10km!

Phấn đấu còn... 45% hộ nghèo!

Chị Võ Thị Quyến bao năm rồi vẫn còng lưng bên chiếc khung chằm nón và vẫn... nghèo! - Ảnh: K.DI

Trong lúc ngồi đợi anh Phẩm giải quyết một số công việc, tôi tranh thủ lướt qua bản báo cáo kinh tế - xã hội của xã và dừng lại ở mấy con số: “Tổng số hộ nghèo là 714 hộ, chiếm tỉ lệ 49,87%” nghĩa là cứ hai hộ thì có một hộ nghèo. Năm 2008 này phấn đấu giảm xuống để còn... 45% số hộ nghèo!

Mười năm trước về thôn nào cũng nghe than thanh niên trai tráng có sức lao động bỏ làng đi làm ăn hết, khi có đám tang không kiếm ra người khiêng; mười năm sau trở lại, con số thống kê “lao động đi làm ăn ngoài địa phương” của Quế Minh cũng ngót nghét 1.000 người!

LÊ ĐỨC DỤC